23:47 ICT Thứ năm, 17/10/2019
Rss Feed

Bùi Văn Nam Sơn - Người say mê triết học

Đăng lúc: Thứ tư - 12/03/2008 08:37 - Người đăng bài viết: Administrator

 

"Cuốn sách đầu tiên "tạo được dấu ấn" đối với tôi là quyển "Triết học Descartes" của Nguyễn Đình Thi khi tình cờ gặp nó năm tôi lên 11 tuổi trong lúc lục tìm các bộ truyện Tàu trong tủ sách gia đình. Thấy lạ, đọc thử, không hiểu gì hết, nhưng kinh ngạc vì không thấy có cốt truyện, nhân vật, tình tiết éo le, gay cấn gì cả mà sao người ta lại có thể viết hàng mấy trăm trang!"

Cuốn sách ấy đã đưa Bùi Văn Nam Sơn lên con đường dài của cuộc sống trí tuệ, để hơn 50 năm sau, trở thành nhà nghiên cứu triết học uyên thâm, người đầu tiên đã dịch ra tiếng Việt toàn bộ tác phẩm Phê phán nổi tiếng của Kant, một trong những bộ sách quan trọng nhất trong gia tài tri thức của toàn nhân loại.


Những ngày cuối của năm âm lịch, người người, nhà nhà tất bật lo sắm sửa, trang trí nhà cửa. Những nụ mai xanh thẫm, căng tròn, chỉ chực chờ đến giao thừa để bung những cánh hoa vàng thắm, khoe sắc cho ngày xuân. Dẫu bộn bề việc nhà, việc cửa, việc công, anh vẫn dành khoảng thời gian quý giá của mình để thực hiện buổi trò chuyện cuối năm cùng bạn đọc. Hơn nữa, anh còn giới thiệu thêm gần chục đầu sách hay để bạn đọc có thể tìm đọc.

Nhiều ý kiến cho rằng, những người có thiên khiếu về triết học, say mê triết học thì não bộ đều có “vấn đề” và thường có những hành động kỳ quặc khiến người khác không thể lý giải nổi. Anh hẳn là sẽ bực khi nghe những ý kiến như thế? Anh có bao giờ chợt đặt  vấn đề với mình rằng “Tại sao tôi lại say mê triết học đến thế không?”

Bùi Văn Nam Sơn: Ồ, lẽ ra phải nói ngược lại chứ! Tôi e chính những ai không “say mê triết học” thì “não bộ mới có “vấn đề” và thường có những hành động kỳ quặc khiến người khác không thể lý giải nổi”! Nói như Adorno, chúng ta đều là những “triết gia” khi còn hồn nhiên đặt những câu hỏi đại loại: Con từ đâu sinh ra và đi về đâu? Vũ trụ này, con chim này, đóa hoa kia ở đâu ra vậy, tại sao đẹp thế và có còn mãi không v.v… và v.v… Chỉ khi lớn lên, đầu óc bị xơ cứng (“não bộ có vấn đề”), ta mới ngại hỏi những câu như thế và, từ đó, có “những hành động kỳ quặc” như… tham, sân, si đủ loại… Tôi chỉ nói đùa cho vui thôi, vì, câu hỏi quả có phần đúng. Xin kể hai câu chuyện, một Tây, một Đông. Thalès, ông tổ của toán học và triết học Hy Lạp, mãi ngắm sao trên trời nên sẩy chân ngã xuống hố, làm trò cười cho cô hầu gái. Ta yêu cô hầu gái luôn đứng vững trên miếng đất của thực tế, đồng thời cũng quý Thalès, vì không có ông thì cũng không có khoa học và triết học Tây phương. Thầy trò Khổng Tử lạc nhau, Tử Lộ hỏi một lão nông: “Cụ có thấy thầy tôi không?”. Ông lão nói: “Tay chân chẳng hoạt động siêng năng, năm giống lúa chẳng biết phân biệt, chính là mấy người đó! Nào biết thầy ngươi là ai?”. Hôm sau nghe thuật lại, Khổng Tử không những không “bực” mà còn khen: “Quả là một vị ẩn giả!”, rồi sai Tử Lộ đi tìm ông lão. Tới nơi, thì ông lão (cố ý!) lánh mặt! Lời phê bình của ông lão nông đối với kẻ học trò “dài lưng tốn vải” là xác đáng bao nhiêu thì ta cũng cảm thông bấy nhiêu với những người không lo… lao động sản xuất mà chỉ lo việc bao đồng (dông dài, lung tung nhiều thứ, không tập trung vào một điều gì) như lời than của Tử Lộ: lo việc bao đồng là làm việc nghĩa, bỏ sao đành, dù thừa biết rằng Đạo khó mà thi hành được (Quân tử chi sĩ dã, hành kỳ nghĩa dã. Đạo chi bất hành, dĩ tri chi hĩ! Luận ngữ, Vi Tử, 7).

Người “say mê triết học” có phần giống với… nàng kỹ nữ của Xuân Diệu: “lòng kỹ nữ cũng sầu như biển lớn”. Khác chăng có lẽ là ở chỗ: nàng kỹ nữ mong “đừng bắt em phải gặp lòng em”, nên đành nhờ những “cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm” để trốn chạy, để lãng quên, còn triết gia thì lại luôn muốn tĩnh lặng để được “gặp lòng mình”. Điều ấy cần một chút mạo hiểm, một chút hài hước và một chút minh triết. Nhưng, đó là nói về những bậc triết gia chân chính, chứ không phải về những kẻ làm dáng hay đóng kịch. Và, ngoài việc “gặp lòng mình”, tôi hiếm thấy có triết gia nào có “những hành động kỳ quặc” ! Hay ta đã tìm lộn địa chỉ, nhầm “Viện Hàn Lâm” của Platon với “Bệnh viện tâm thần Biên Hòa”?

Tất cả sinh viên đại học đều phải học triết học nhưng rất nhiều trong đấy lại sợ hãi môn học này. Họ bảo rằng, triết  học chẳng mang lại ích lợi gì cho tôi. Nó là một mớ lý thuyết chán ngắt. Họ học chỉ là để vượt qua kỳ thi. Anh có thể nói một cách hình tượng và dễ hiểu nhất để những bạn trẻ có thể hiểu được lợi ích của việc học triết và cái đẹp của triết học?

Bùi Văn Nam Sơn: Do bản tính của nó, mọi “lý thuyết” đều chán ngắt, xám xịt. Trách lý thuyết màu xám không khác gì chê bò trắng răng. “Khuôn trăng đầy đặn” của Thúy Vân là “cây đời xanh tươi", còn vòng tròn lý tưởng theo định nghĩa trong trang sách hình học là “lý thuyết xám xịt”. Mỗi bên có vẻ đẹp riêng của nó và không thay thế được cho nhau. Người sinh viên đã có thể vừa… mê Thúy Vân vừa yêu vẻ đẹp tuyệt trần của toán học thì không có lý do gì để sợ hãi và chán ghét triết học cả, vì triết học nói như Hegel, là vòng tròn của những vòng tròn.  


  Nhưng, trong thực tế, nếu ta vẫn cứ ngán ngẩm triết học và “học chỉ là để vượt qua kỳ thi” thì nguyên nhân có lẽ tại phương pháp dạy và học triết học: thay vì học cách triết lý, phán đoán, suy luận, đối thoại… để khai phóng và nâng cao tâm hồn, ta lại dạy và học một mớ kiến thức có sẵn, nhầm tưởng là đã hoàn tất, thậm chí còn cực đoan hơn: nếu sự kiện không hoàn hảo hay không phù hợp với lý tưởng đã được đúc sẵn thì đó là lỗi của… Thúy Vân chứ không phải của hình tròn !

Người ta nên bắt đầu tiếp cận với triết học ở độ tuổi nào và bằng hình thức như thế nào thì có thể thẩm thấu được một cách tốt nhất, thưa anh?

Bùi Văn Nam Sơn: Ở tuổi ấu thơ, con người “triết lý” một cách hồn nhiên. Nhưng, đến tuổi 70, một đại triết nhân như đức Khổng vẫn mong được sống thêm vài năm để học kinh Dịch ! Như thế, tuổi nào cũng có thể tiếp cận với triết học, và triết lý thì không có tuổi. Tuy nhiên, ở đây, ta luôn gặp phải sự “mâu thuẫn" thường trực giữa triết học “bí truyền” (Esoterik) hiểu như một chuyên ngành và triết học “công truyền” (Exoterik) hiểu như một định hướng cuộc sống cho mọi người. Nhìn từ phương diện khác, đó cũng là sự “mâu thuẫn” giữa “khoa học” (hệ thống nhận thức chặt chẽ) và sự “khai minh” cho cá nhân mỗi người.

Giống như nghệ thuật, tôn giáo hay chính trị, triết học cũng có chức năng song đôi: là chuyên ngành và không-phải chuyên ngành. Một mặt, nó phải là những định hướng thiết thực cho cuộc sống mà, về nguyên tắc, ai ai cũng tiếp cận được, mặt khác, nó phát triển thành một khoa học chuyên biệt phải rất vất vả mới nắm bắt nổi. Trong bối cảnh văn hóa của thời đại ngày nay, triết học dường như chỉ có thể xuất hiện trong hình thức khoa học hoặc ít ra, trong hình thức tranh luận khoa học, và điều ấy không khỏi gây trở ngại cho chức năng “khai minh” của nó. Làm sao dung hòa hai chức năng ấy? Kant là một mẫu mực khi gợi ra giải pháp: ông là người đặt nền tảng cho tinh thần khoa học trong triết học cận đại, đồng thời không bao giờ xao nhãng chức năng “khai minh” của nó khi phân biệt giữa “quan niệm trường ốc” và “quan niệm toàn hoàn vũ” về triết học (xem: Phê phán lý tính thuần túy, B860 và tiếp). Theo “quan niệm trường ốc”, triết học là hệ thống những kiến thức có lô gíc chặt chẽ và hoàn chỉnh, nhưng nó phải định hướng theo “quan niệm toàn hoàn vũ” như là “mục đích tối hậu” mà “ai ai cũng tất yếu phải quan tâm”, đó là xây dựng năng lực thực hành đạo đức một cách tự trị cho con người. Vả chăng, bằng con mắt thực tế, ai cũng phải thừa nhận triết học ít nhiều cần đến “thời gian nhàn rỗi” và “trình độ văn hóa”. Từ cổ đại, Aristotle đã nhìn thấy điều ấy, và cả nơi Marx khi ông phân biệt “vương quốc của sự tất yếu” và “vương quốc của Tự do”. Nhưng, trước đây, chỉ một số ít người có được hai điều kiện ấy và hầu như họ “làm triết học” hộ cho số đông, đúng như nhận định của Habermas rằng cương lĩnh của Triết học-khai minh “trước đây đã thiếu hẳn nền tảng là một hệ thống giáo dục phổ thông” (Philosophisch-politische Profile, Frankfurt/M, 1971, tr. 25). Tình hình ấy ngày nay đã có phần cải thiện và đó cũng sẽ là… cơ hội cho triết học!


 “Triết học như là khoa học” theo kiểu “thuần túy” thì hướng đến tính khách quan, tức, đến chân lý khách quan và giá trị hiệu lực phổ quát, liên-chủ thể. Trong khi đó, “triết học như là sự khai minh” nhắm đến năng lực phân tích, lý giải, nhận thức của người làm triết học “gặp gỡ chính lòng mình”. Khai minh khác với khoa học ở chỗ quan hệ “với chính mình” ấy. Vì thế, khai minh không chỉ là tiếp thu và tích lũy thông tin. Người được khai minh không phải là kẻ biết tất cả, mà biết đặt cái đã biết trong quan hệ với chính mình và với những mối quan tâm thực tiễn của mình. Sự khai minh không chủ yếu nhắm đến sự tăng tiến tri thức cho bằng làm mất đi sự ngây thơ và ảo tưởng. (Chẳng hạn, trong bầu khí đầy mê tín của thời cổ đại, khi Protagoras bảo rằng: “con người [chứ không phải thần linh] là thước đo của vạn vật”, hay khi Xenophanes phát hiện rằng: “nếu bò, ngựa, sư tử có tay và biết vẽ bằng tay như người thì thần linh của chúng sẽ có hình bò, ngựa, sư tử”…, hai ông là những người đầu tiên được “khai minh”!). Đó không phải là “nhận thức” (về sự kiện) mà là sự “thức nhận” (insight) làm thay đổi nhận thức trước nay. Và đó cũng là tinh thần của Kant khi định nghĩa sự khai minh là “việc đi ra khỏi sự không trưởng thành”. Tuy nhiên, khoa học và sự khai minh không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau: khoa học mà không có sự khai minh sẽ là giáo điều, phiến diện, phi nhân; khai minh mà không có khoa học thì trở thành chủ quan, tùy tiện, biệt phái. Nhưng, chúng vẫn là hai hướng đối nghịch nhau; ta không thể đạt được cái này nếu chỉ nỗ lực làm cái kia, và triết học hiện đại cho thấy: việc “khoa học hóa” triết học luôn có nguy cơ làm cho bản thân người làm triết học cũng đánh mất chính mình. Đó cũng là lý do tại sao nhiều người sau khi tận lực tìm hiểu, nghiên cứu triết học, rút cục tự đặt câu hỏi: “nó có mang lại ích lợi gì cho tôi đâu”? Mặt khác, trong thời đại thông tin toàn cầu ngày nay, hình thức của “khoa học” và “khai minh” cũng đã đổi khác nhiều: “khoa học” không còn là sự rao giảng một chiều, còn “khai minh” cũng không đơn thuần là việc “đi tìm chân lý” trong sự cô đơn mà trong “cộng đồng truyền thông” của sự đối thoại rộng rãi và công khai trên phạm vi quốc gia lẫn quốc tế.

Có cuốn sách nào để cho một người chưa biết gì về triết  học tự đọc mà vẫn có thể hiểu một cách khái quát về triết và giá trị của môn khoa học này?

 

Bùi Văn Nam Sơn: Ước gì có được một quyển sách cẩm nang thần kỳ như thế! Luận ngữ của đạo Nho, Kinh Kim Cương của đạo Phật, Đối thoại Symposium của Platon, Phê phán lý tính thực hành của Kant (để chỉ kể tối thiểu) đáp ứng được các mong mỏi ấy chăng?

Hẳn là anh đã từng áp dụng những nguyên lý, quy luật của triết học vào trong cuộc sống đời thường, vào các mối quan hệ  gia  đình, bạn bè, công việc? Mong anh chia sẻ với bạn đọc một vài trường hợp mà anh đã áp dụng?

 

Bùi Văn Nam Sơn: Tôi chưa từng dám thử vì tự biết sức mình, hễ “áp dụng” thì nhất định thất bại! Ngay một vài cách “xử thế tiếp vật” đầy hiền minh của những bậc tiên hiền tuy hết sức đáng ngưỡng mộ nhưng thật không dễ bắt chước. Xin thử kể vài “vụ”:


-     Aristotle đành lòng rời Athens vì không muốn quê hương mình “phạm tội ác lần thứ hai” đối với triết học (lần thứ nhất là giết hại Socrate) !


-     Cụ Khổng “học không biết chán”; “không có điều gì nhất định phải làm, cũng không có điều gì nhất định không nên làm”; “rời nước Lỗ (quê hương) thì đi rất chậm; rời nước Tề (vô đạo) thì rảo bước rất nhanh”…


-     Leibniz ân cần đặt chuồn chuồn, châu chấu trở lại trên cành lá và tỏ lòng biết ơn chúng sau khi đã “mượn tạm” để nghiên cứu !


-     Voltaire: “Tôi không đồng ý với bạn, nhưng tôi sẵn sàng chết để đấu tranh cho quyền được nói của bạn!”…

 

Rất nhiều người đoán rằng, số lượng sách mà anh đã đọc chắc phải là nhiều lắm? Cuốn sách đầu tiên tạo được dấu ấn  đối với anh là gì? Mong anh chia sẻ với bạn đọc bí quyết để đọc được nhiều sách đồng thời vẫn ghi nhớ những sách mà mình đã đọc?

 

Bùi Văn Nam Sơn: Xưa có người bảo: “kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, soi gương mặt mày khó coi”. Nhưng, Nguyễn Trãi lại từng than: … “Độc thư thiên vạn quyển, nhất tự bất cứu cơ…” (“Đọc sách ngàn vạn quyển, chẳng có được một chữ để cứu đói cho dân !”). Nhưng đó là nỗi buồn sau khi cụ đã “độc thư thiên vạn quyển”!

 

Cuốn sách đầu tiên “tạo được dấu ấn” đối với tôi là quyển “Triết học Descartes” của Nguyễn Đình Thi khi tình cờ gặp nó năm tôi lên 11 tuổi trong lúc lục tìm các bộ truyện Tàu trong tủ sách gia đình. Thấy lạ, đọc thử, không hiểu gì hết, nhưng kinh ngạc vì không thấy có cốt truyện, nhân vật, tình tiết éo le, gay cấn gì cả mà sao người ta lại có thể viết hàng mấy trăm trang! Về kinh nghiệm đọc sách, mỗi người một kiểu, nhưng đáng chú ý là lời khuyên của các bậc đàn anh: muốn hiểu rõ một quyển sách (nước ngoài) thì hãy cố thử dịch nó ra! Còn “bí quyết” đọc sách, xin chép lại câu sau đây của Chu Hy để hiến tặng tất cả những bạn yêu sách: “Cư kính trí chí, thị độc thư chi bản; tuần tự chí tinh, thị độc thư chi pháp” (Gốc của việc đọc sách là nghiêm chỉnh, quyết tâm, còn phép đọc sách là tiến dần từng bước đến chỗ tinh tường).

 

Những cuốn sách do nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn giới thiệu :


Nhập môn triết học và khoa học
; /101 triết gia; / Hoàn cảnh hậu hiện đại; / Phê phán lý tính thực hành; / Phê phán năng lực phán đoán; / Hiện tượng học tinh thần; / Phê phán lý tính thuần túy


Đôi nét về nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn:

 

-   Tên thật: Bùi Văn Nam Sơn


-   Sinh năm: 1947


-   Nơi sinh: Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam


-   Học triết học Tây phương tại Đại học Văn khoa Sài Gòn (cũ) (1964-1968) và sau đó học tiếp ở khoa Triết, Đại học J. W. Goethe, Frankfurt/M, CHLB Đức.

 

 

Các công bố:

 

 Dịch và chú giải:


-   I. Kant:


-   Phê phán lý tính thuần túy, NXB Văn học, 2004.


-   Phê phán năng lực phán đoán, NXB Tri thức, 2006.


-   Phê phán lý tính thực hành, NXB Tri thức, 2007

 

- Hegel: Hiện tượng học Tinh thần, NXB Văn học, 2006.

 

-   Max Weber: Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (dịch chung với Trần Hữu Quang, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng, Lời giới thiệu viết chung với Trần Hữu Quang), NXB Tri thức, 2008.

 

-   J. S. Mill: Chính thể đại diện (dịch chung với Nguyễn Văn Trọng), NXB Tri thức, 2008.

 

Hiệu đính và giới thiệu:

 

-   Nền dân trị Mỹ (Tocqueville) (bản dịch của Phạm Toàn), NXB Tri thức, 2007.


-   Hoàn cảnh hậu hiện đại (Lyotard) (bản dịch của Ngân Xuyên), NXB Tri thức, 2007


-   101 triết gia (Mai Sơn biên soạn), NXB Tri thức, 2007


-   Tủ sách “Nhập môn triết học, có minh họa”, NXB Trẻ (từ 2006)

 

Lời bạt:

 

-   Cháu ông Rameau (Diderot) (bản dịch của Phùng Văn Tửu), NXB Tri thức, 2007

 

Giới thiệu:


-   Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại (Bùi Giáng), NXB Văn học (tái bản), 2001


-   Triết học Kant (Trần Thái Đỉnh), NXB Văn học (tái bản), 2007


-   Đâu là căn nguyên tư tưởng? hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger (Lê Tôn Nghiêm), NXB Văn học (tái bản), 2007


-   Câu truyện triết học (Will Durant) (bản dịch của Trí Hải và Bữu Đích), NXB Văn học (tái bản), 2008

 

Giải thưởng:

- Giải thưởng “Tinh hoa giáo dục quốc tế” (2006) của Đại học quốc gia Hà nội và Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh cho bản dịch và chú giải “Phê phán lý tính thuần túy”.

Nguồn: sachhay.com (04/02.08)

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 182/2019 new (1)

Trang 1 Market Ban tin so 182 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2019 (Final) samll