15:05 ICT Thứ bảy, 14/12/2019
Rss Feed

GS. Dương Thị Cương - Tận tuỵ với bệnh nhân, say mê với khoa học

Đăng lúc: Thứ năm - 31/07/2003 16:13 - Người đăng bài viết: Administrator

 

Đó là lời nhận xét của nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế - GS Đỗ Nguyên Phương về GS Bác sĩ Nhà giáo ưu tú Dương Thị Cương (nguyên Viện trưởng Viện Bảo vệ sức khoẻ và trẻ sơ sinh (BVSKBMTSS), Chủ tịch Hội Phụ sản Việt Nam) trong buổi lễ trao giải thưởng Kovalepskaia năm 1999, giải thưởng cao quý dành cho các nhà khoa học nữ xuất sắc.

GS Dương Thị Cương
GS Dương Thị Cương cùng chồng GS. Vũ Văn Đính
Ngay từ những ngày đầu làm việc, bác sĩ trẻ Dương Thị Cương đã có ý thức tự rèn luyện, mở rộng tầm hiểu biết, nhất là lĩnh vực sản phụ khoa. Vốn yêu nghề, lại thừa hưởng truyền thống hiếu học của gia đình (bà là con gái của GS Dương Quảng Hàm - BBT), bà tự học ngoại ngữ để nghiên cứu tài liệu y học của các nước và nghiên cứu đặc điểm các bệnh phụ khoa để tìm cách chữa trị cho phù hợp. ở Viện BVSKBMTSS, bà đã chứng kiến nhiều căn bệnh quái ác riêng có ở phụ nữ: bướu trung sản, lao sinh dục, ung thư nhau, u ác tính buồng trứng, ung thư cổ tử cung... Ví như bệnh tắc vòi trứng, một căn bệnh có nguy cơ dẫn đến vô sinh (đứng hàng thứ hai sau nguyên nhân nội tiết), bệnh nhân sẽ không có hạnh phúc được làm mẹ. Về phương pháp điều trị, mới chỉ có cách mổ để thông vòi trứng, nối vòi trứng, gỡ dính... Nhưng trong nhiều trường hợp không thể mổ được (vì điều kiện sinh hoạt, vì tình trạng viêm dính...), chẳng lẽ phải khoanh tay đứng nhìn? Thực trạng đó khiến bác sĩ Cương trăn trở và qua tài liệu nước ngoài, bà và nhóm điều trị vô sinh của Viện đã nghiên cứu, áp dụng phương pháp dùng Cortisone và kháng sinh điều trị chống viêm dính cho kết quả tốt.

Cảm thông với những đau đớn, khó nhọc của người phụ nữ khi "vượt cạn" và thấu hiểu nỗi bất hạnh mà họ phải đương đầu, bà cũng đã nghiên cứu, công bố một số đề tài như "Các chỉ định hạ tỷ lệ tử vong mẹ và con khi chuyển dạ đẻ", "Kinh nghiệm xử trí ngôi ngang", các đề tài có liên quan đến ung thư buồng trứng, ung thư nhau, liên quan đến thai nhi và trẻ sơ sinh... Cùng thời gian này, bà đã bắt đầu nghiên cứu các đề tài ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư niệm mạc tử cung... Càng chuyên sâu vào nghề, bà càng bận rộn hơn, trách nhiệm nặng nề hơn. Có lần, một bệnh nhân trẻ quê ở Thái Bình bị nghi là ung thư cổ tử cung. Sau khi khám, phân tích, xét nghiệm và hội chẩn, các bác sĩ đã quyết định mổ cắt tử cung. Nhưng bằng cảm giác, kinh nghiệm, bà thấy nghi hoặc nên quyết định xin thêm thời gian để theo dõi. Bà đã không nhầm, người phụ nữ ấy chỉ bị viêm nhiễm chứ không phải ung thư!

Gần gũi và đồng cảm với người bệnh, hiểu nỗi đau của họ, bác sĩ Dương Thị Cương luôn đứng về lợi ích của họ mà hành động vì mục đích cuối cùng là cứu sống bệnh nhân. Có nhiều gia đình quá tuyệt vọng đã xin cho bệnh nhân về, bà đã giải thích cho họ hiểu, đề nghị ở lại Viện để hết lòng cứu chữa, nếu kéo dài cuộc sống của bệnh nhân thêm được ít năm cũng đã là thành công. Lại có trường hợp bệnh nhân mới hơn 20 tuổi bị ung thư buồng trứng đã lan rộng, một bệnh viện đã mổ song không thể giải quyết được, họ đành khâu lại, gửi cấp cứu đến Viện trong tình trạng bệnh nhân đang ngạt thở, bụng đầy nước, tính mạng bị đe doạ... Xác định trường hợp xấu nhất có thể xảy ra nhưng không thể để bệnh nhân chết trên bàn mổ! Rất may khối u đã được cắt bỏ an toàn. Ca mổ thành công và cô gái sống thêm được 10 năm nữa... Cứ như thế, con đường làm nghiên cứu khoa học của bà đi cùng với những thành công từ những ca bệnh hiểm nghèo do bà chữa trị.

42 năm công tác, "con người của công việc" ấy đã hoàn thành 83 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp về sản, phụ, sơ sinh. Trong đó, có 1 đề tài cấp Nhà nước, 1 đề tài cấp Bộ và 5 đề tài hợp tác quốc tế do Tổ chức Y tế thế giới chủ trì. Tất cả đều được đánh giá tốt, mang lại lợi ích không nhỏ trong việc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em. Ngoài ra, bà còn tích cực viết các bài báo khoa học, tham gia viết sách phục vụ sinh viên y khoa, dịch nhiều sách về sản phụ khoa và tham gia viết Từ điển Y học... Năm 1990, bà được phong danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Năm 1999, bà được Bộ Y tế tặng bằng khen "Thực hiện xuất sắc 12 điều y đức" và năm 2000, được Nhà nước tặng phần thưởng cao quý: Huân chương Lao động hạng Ba.

Việc trao giải thưởng Kovalepskaia là sự ghi nhận những cống hiến của bà đối với khoa học, đồng thời cũng là sự tri ân của bao bà mẹ, người vợ từng là bệnh nhân của bà, được bà cứu chữa, đang sống hạnh phúc. Rất nhiều ông bố, bà mẹ để tỏ lòng biết ơn người bác sĩ đã cứu sống vợ và con họ, đã lấy tên bà đặt cho con mình.
Tác giả bài viết: Minh Chúc
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 185/2019 new (1)

Market Ban tin so 185 trang 1 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2019 (Final) samll