18:17 ICT Thứ ba, 26/03/2019
Rss Feed

Dự thảo Báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục: Còn xa với thực tế

Đăng lúc: Thứ năm - 23/12/2004 09:09 - Người đăng bài viết: Administrator

 
Dự thảo Báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục: Còn xa với thực tế

Ngày 27/9/2004, Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo khoa học góp ý cho Dự thảo Báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục. Đông đảo các nhà khoa học đã đến dự và sôi nổi đóng góp ý kiến cho bản dự thảo báo cáo. Nhiều ý kiến của các nhà khoa học đã chỉ ra những thiếu sót trong bản báo cáo này.

GS Hoàng Tuỵ phát biểu: Nền giáo dục của nước ta chưa ổn từ gốc, còn rất nhiều yếu kém bất cập, thậm chí có mặt còn trở nên gay gắt và nghiêm trọng, biến thành một căn bệnh trầm kha, những ung nhọt nguy hiểm chưa lường. Bản dự thảo báo cáo của Chính phủ vẫn tìm cách chứng minh rằng mọi việc đều tốt đẹp, tuy có bất cập này nọ nhưng là những bất cập bình thường, nền giáo dục thời nào chẳng có. Nhiều con số nêu trong báo cáo có thể đều chính xác, song chưa nói đúng thực chất tình hình, vẫn có cảm giác chưa thật, còn tránh né nhiều vấn đề cốt lõi, hời hợt khi nhận định các bất cập cho nên chưa tạo được niềm tin. Bản báo cáo quá dài, sa đà vào nhiều chi tiết vụn vặt mà chưa khái quát thành một nhận định súc tích. Về thành tựu giáo dục không nên nhấn mạnh nhiều và kể lể dông dài. Nhận định kiến thức, kỹ năng của học sinh phổ thông hiện nay cao hơn các thế hệ trước và chất lượng giáo dục phổ thông của ta không thua kém các nước trong khu vực, còn đào tạo học sinh giỏi thì đạt trình độ cao trong khu vực đều không đúng vì dựa trên một tư duy lạc hậu về giáo dục. Quan niệm của chúng ta là chỉ chú ý số lượng kiến thức được nạp vào đầu học sinh, chứ không quan tâm đến chất lượng, tệ hơn không cần biết trình độ phát triển của tư duy. Cũng do quan niệm lạc hậu đó mà chúng ta chỉ chú trọng đánh giá bằng thi cử cổ lỗ và gắn bó với kiểu thi đó đến nỗi không tài nào dứt ra được. Đó là nói giáo dục phổ thông, còn ở đại học thì từ quan niệm về đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ cho đến việc tuyển chọn GS, PGS... tất cả đều thể hiện tư duy bất cập, đến mức gọi đại học của ta là phổ thông cấp 4 như nhân dân đã ví. Tệ hại nhất là từ cử nhân đến thạc sỹ, TS, PGS, GS nhan nhản sản phẩm rởm, không chỉ rởm do chạy chọt, mua bán và nguy hại hơn, rởm mà thật vì đường đường xuất xưởng từ quy trình đào tạo chính quy của ta. Phần đắt giá nhất và được chờ đợi nhiều nhất trong báo cáo này là phần II nói về yêu cầu đổi mới tư duy giáo dục. Song phần nhiều trong báo cáo còn thể hiện tư duy cũ, điều đó chứng tỏ tư duy mới còn rất lúng túng, chưa rõ ràng, thậm chí có thể nói chỉ trên ngôn từ, và đại ngôn. Nào là phát triển con người Việt Nam với đầy đủ bản lĩnh và phẩm chất tốt đẹp của dân tộc, nào là xây dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân. Nói đổi mới tư duy là cần xác định các vấn đề cụ thể của giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là không đầy đủ, không đúng, khi đem ra thực hiện có thể gây tai họa không nhỏ, đặc biệt là đẩy nền giáo dục sâu hơn vào vũng lầy thương mại hoá tiêu cực hiện đang gây sự bất bình của nhân dân.

GS Nguyễn Lân Dũng thì cho rằng cần có cái nhìn khách quan về thực trạng giáo dục nước ta. Theo ông chúng ta có quyền tự hào về công sức và tâm trí của trên 900 nghìn giáo viên các cấp đã vượt qua bao khó khăn về cuộc sống vật chất, về phương tiện giảng dạy để dìu dắt hết lứa này đến lứa khác đến bến bờ của tri thức. Ông Dũng cho rằng điều tồn tại thứ nhất và cũng là lớn nhất trong giáo dục của ta là chất lượng của đội ngũ giáo viên. Số đông giáo viên chưa được tạo điều kiện để chuẩn hoá, sự chênh lệch về trình độ trong cùng một cấp là quá lớn. Nhiều giáo viên không hiểu nội dung bài giảng và không biết làm gì ngoài việc bắt ép học sinh phải chép bài (mặc dù đã có sách giáo khoa) và bắt ép học sinh học thuộc lòng cả những điều chưa hiểu. Trình độ giáo viên đại học càng đáng lo ngại, nhiều giáo viên đại học dạy quá nhiều giờ, dạy cùng lúc nhiều trường và không hề tham gia nghiên cứu khoa học, không ít người chưa sử dụng thông thạo bất kỳ ngoại ngữ nào và không hề cập nhật hoá kiến thức nhờ công cụ hữu hiệu là Internet... Điều tồn tại thứ hai là nhà trường chỉ chú trọng về truyền đạt kiến thức mà coi nhẹ việc hình thành nhân cách, bồi dưỡng lý tưởng cao cả cho thanh thiếu niên, coi rất nhẹ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Điều tồn tại thứ ba là sự bất cập về chương trình và sách giáo khoa, hiện trình độ kiến thức các cấp học của ta thấp hơn so với nhiều nước. Về chương trình giáo dục thì nhẽ ra việc giáo dục chính trị, giáo dục mỹ học, giáo dục thể chất...phải nằm trong các hoạt động ngoại khoá có tổ chức một cách chặt chẽ nhưng thoải mái và hợp nguyện vọng của thanh niên. Các môn học khác (ngoại trừ các môn văn sử địa), cần có mặt bằng chung với chương trình của các nước phát triển hoặc ít ra là chương trình của các nước tiên tiến trong khu vực. Vì lý do gì chúng ta tạo ra một chương trình vừa nặng nề hơn, vừa chẳng giống ai trong khu vực, không cập nhật được các thông tin hiện đại, khó học, khó tiếp thu, khó nhớ. Điều tồn tại thứ tư là chế độ khoa cử quá nặng nề. Khi đã thực hiện phổ cập giáo dục rồi thì cần gì kỳ thi tốt nghiệp tiểu học. Đáng xem xét lại kỹ nhất là kỳ thi tuyển sinh vào các trường Đại học- Cao đẳng, phải mở rộng hơn nữa cánh cửa các trường cao đẳng, đại học. Cần phải xã hội hoá sự nghiệp quan trọng này. Các trường CĐ-ĐH tư thục cần được khuyến khích phát triển, chỉ cần có những tiêu chuẩn rất cụ thể về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên là cho phép tuyển sinh. Điều tồn tại thứ năm là vừa cần mở rộng đầu vào cho các trường ĐH-CĐ nhưng lại vừa thực hiện chế độ thi cử một cách nghiêm túc để giáo dục CĐ-ĐH không có hình ống như hiện nay mà có hình nón cụt hay hình thang. Điều tồn tại thứ sáu là mục tiêu không rõ ràng của các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề. Nhiều trường đào tạo ra những sinh viên không biết là có nghề ngỗng cụ thể gì, có thể làm được việc gì và làm ở đâu. Một kỹ sư chuyên ngành Môi trường nhẽ ra phải có đủ khả năng xử lý ô nhiễm các nguồn nước thải, rác đô thị, rác công nghiệp... nhưng nếu trong đầu chỉ có một mớ lý thuyết về các loại tác hại ô nhiễm thì liệu biết về làm việc ở đâu và sẽ làm được việc gì. Điều tồn tại thứ bảy là chủ trương giáo dục thường xuyên là rất đúng và cần thiết nhưng thực hiện không đạt yêu cầu. Theo giáo sư Nguyễn Lân Dũng thì để chấn chỉnh công tác giáo dục ở nước ta phải theo ba định hướng cơ bản sau: Quốc tế hoá chương trình và sách giáo khoa để có thể sớm hội nhập với trình độ chung của thế giới. Dân tộc hoá nội dung đào tạo để duy trì và phát huy các giá trị nhân văn, đạo đức truyền thống của nhân dân ta. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục để động viên cao độ sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân và đáp ứng được nguyện vọng và quyền lợi được học tập của tất cả thanh thiếu niên Việt Nam.

GS Hồ Sĩ Thoảng nhận xét: Việc đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông và đại học chưa rõ nét, người đọc khó hình dung chất lượng giáo dục thực sự đã đạt đến mức nào, không nên tách hai phần thành tựu và khuyết điểm như trong báo cáo. Một báo cáo thành tích thì viết vậy, nhưng đây là báo cáo đánh giá chất lượng cho nên chất lượng thế nào thì đánh giá thế ấy. Cũng cần lưu ý là không nên lấy những thành tích có tính cá biệt để làm đánh giá chung, cần đánh giá theo tiêu chí cụ thể. Các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc trong giáo dục cần được đánh giá từ nhiều khía cạnh khác nhau, cái gì do khách quan, cái gì do yếu kém của nền giáo dục...

PGS Đặng Danh ánh đánh giá hệ thống giáo dục của ta đang phát triển theo “hình tháp lật ngược” vì thế không thể nói như dự thảo là ta đã xây dựng được hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, khá hoàn chỉnh được. Ông ánh đề nghị điều chỉnh cơ cấu phân luồng, tạo ra nhiều loại hình trường mới sau THCS. Học sinh tốt nghiệp THCS có thể chọn học PTTH, Trung học kỹ thuật, Trung học chuyên nghiệp, học nghề... Khi tốt nghiệp trường Trung học kỹ thuật, học sinh vừa có trình độ văn hoá bậc trung học, vừa có bằng nghề 3/7. Đây là loại hình phổ biến ở các nước. Nhà nước cần khôi phục loại trường dạy nghề, có như vậy mới giải quyết tình trạng quá tải khi thi vào CĐ,ĐH như hiện nay.

Còn nhiều ý kiến của các nhà khoa học khác về chất lượng giáo dục của nước ta hiện nay, những bất cập, những đề xuất cải thiện tình hình. Tất cả các ý kiến sẽ được Liên hiệp hội tập hợp trình lên Chính phủ. Tại hội thảo, các nhà khoa học đã rất thẳng thắn, nhìn thẳng vào sự thật, đóng góp nhiều ý kiến xác đáng với mong muốn nền giáo dục Việt Nam phát triển.
Tác giả bài viết: HN
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 176/2019 new (1)

Market Ban tin so 176 Trang 1 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 12 2018 (final) small