00:18 ICT Thứ ba, 17/09/2019
Rss Feed

Khai thác tiềm năng thương mại điện tử

Đăng lúc: Thứ tư - 12/07/2006 07:24 - Người đăng bài viết: Administrator

 
Khai thác tiềm năng thương mại điện tử

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử (TMÐT) giai đoạn 2006-2010. Theo đó, vào năm 2010, 60% số doanh nghiệp lớn bao gồm các tập đoàn kinh tế, hệ thống các tổng công ty phải ứng dụng TMÐT.

Như vậy, cơ sở nào để chúng ta thực hiện kế hoạch trên khi thực trạng TMÐT ở nước ta còn nhiều vấn đề cần xem xét?

 

Theo kết quả khảo sát của Vụ Thương mại điện tử năm 2005 về quan điểm của doanh nghiệp về tác dụng của website đối với hoạt động kinh doanh mức chú ý được xếp thứ tự như sau: xây dựng hình ảnh công ty; mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng hiện có; thu hút khách hàng mới; tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động; và tăng doanh số. Kết quả khảo sát đã phản ánh thực tế là hầu hết doanh nghiệp có website mới chỉ coi đó là kênh tiếp thị bổ sung để quảng bá hình ảnh công ty và giới thiệu sản phẩm/dịch vụ. Do đó, doanh nghiệp chưa đầu tư khai thác hết những lợi ích TMÐT có thể mang lại.

 

Bản báo cáo mới nhất của hãng eMarketer cho biết, cột mốc đáng nhớ vào cuối năm 2005, tổng số người sử dụng internet trên toàn cầu là hơn một tỷ, chiếm khoảng một phần sáu tổng dân số, trong đó có khoảng 845 triệu người truy cập mạng thường xuyên. Ở Việt Nam tính đến giữa năm 2005 đã có khoảng 10 triệu người truy cập internet, chiếm khoảng 12,5% số dân cả nước, dự tính đến đầu năm 2006, tỷ lệ này có thể sẽ tăng từ 16 đến 18% khi số người truy cập internet lên đến 13-15 triệu người. Ðiều này cho thấy tín hiệu lạc quan về sự phát triển TMÐT ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010.

 

Thương mại điện tử chỉ việc thực hiện những giao dịch thương mại dựa trên các công cụ điện tử mà cụ thể là mạng internet. Có nhiều cấp độ thực hiện TMÐT. Ở cấp độ cơ bản, một website đối với doanh nghiệp có thể chỉ để trưng bày thông tin, hình ảnh, tìm kiếm khách hàng qua mạng, liên hệ với khách hàng qua email... Cấp độ cao hơn khi doanh nghiệp thực hiện một số giao dịch trên mạng như khách hàng đặt hàng thẳng từ trên mạng, quản lý thông tin khách hàng, đơn hàng bằng cơ sở dữ liệu tự động, có thể xử lý thanh toán qua mạng bằng thẻ tín dụng...

 

Ðối với nước ta, TMÐT giúp rất nhiều cho kinh doanh marketing và tìm kiếm khách hàng qua mạng, nhất là các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và xuất khẩu. Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại) đến cuối năm 2004, Việt Nam đã có khoảng 17.500 website của các doanh nghiệp. Các website sàn giao dịch B2B, website rao vặt, siêu thị trực tuyến B2C... đua nhau ra đời. Tuy nhiên, các website này vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có website nào thật sự phát triển đột phá. Những mặt hàng được bán phổ biến trên mạng tại Việt Nam hiện nay chủ yếu gồm: hàng điện tử, kỹ thuật số, sản phẩm thông tin (sách điện tử, CD, VCD, nhạc...), thiệp, hoa, quà tặng, hàng thủ công mỹ nghệ. Các dịch vụ ứng dụng TMÐT nhiều như:   du lịch, tư vấn, CNTT, dịch vụ thông tin, giáo dục và đào tạo...

 

Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều hơn về việc lập website để giới thiệu thông tin, hỗ trợ marketing, bán hàng qua mạng... Kết quả khảo sát của Vụ Thương mại điện tử năm 2005 về quan điểm của doanh nghiệp thứ tự tác dụng của website đối với hoạt động kinh doanh được đánh giá như sau: Xây dựng hình ảnh công ty; mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng hiện có; thu hút khách hàng mới; tăng lợi nhuận và hiệu quả  hoạt động; và tăng doanh số. Kết quả khảo sát đã phản ánh thực tế là hầu hết doanh nghiệp có website mới chỉ coi đó là kênh tiếp thị bổ sung để quảng bá hình ảnh công ty và giới thiệu sản phẩm/dịch vụ. Do đó, doanh nghiệp chưa đầu tư khai thác hết những lợi ích TMÐT có thể mang lại.

 

Theo nhiều chuyên gia, để TMÐT phát triển, cần nhiều yếu tố thúc đẩy và làm nền tảng cụ thể: Về cơ sở hạ tầng công nghệ: Ðây là điều kiện quan trọng nhất để tiến trình thực hiện TMÐT có những bước bứt phá. Công nghệ thông tin và internet đã trở nên không còn xa lạ và là kênh thông tin không còn xa xỉ đối với người dân Việt Nam, nó đã vươn xa tới tận thôn bản. Ðiều đó chứng tỏ, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện những cuộc bứt phá cho TMÐT ở Việt Nam; Về số người truy cập internet và chi phí truy cập internet: Hiện nay, tỷ lệ người dân  truy cập internet ở nước ta tuy còn thấp so với các nước phát triển nhưng đã đạt đến mặt bằng chung của thế giới (xấp xỉ 13% và dự báo hoàn toàn có thể tăng cao hơn), đây cũng có thể coi là điều kiện rất mở cho mục tiêu phát triển TMÐT của nước ta theo kế hoạch 2006-2010. Ðối với chi phí truy cập internet, tuy còn cao hơn so với mặt bằng khu vực nhưng đã có những cải thiện đáng kể và không còn là "nỗi ám ảnh" đối với người tiêu dùng; Về nhân lực chuyên môn: Nếu như ngành CNTT nói chung của nước ta đang đứng trước nguy cơ về sự khủng hoảng nguồn nhân lực, thì trong lĩnh vực  TMÐT bắt đầu hé mở những tín hiệu đáng mừng vì doanh nghiệp ngày càng đánh giá cao ứng dụng CNTT trong việc nâng cao năng suất lao động và mở rộng thị trường. Số đơn vị kinh doanh có cán bộ chuyên trách về CNTT tăng nhanh. Một số trường đại học kinh tế - thương mại trong nước đã tiến hành giảng dạy về TMÐT như một phần chương trình đào tạo các kỹ sư kinh tế.

 

Bên cạnh đó, có nhiều sinh viên Việt Nam chọn chuyên ngành TMÐT ở các trường đại học nước ngoài. Trong vài năm tới, đây sẽ là lực lượng quan trọng hỗ trợ doanh nghiệp khi tham gia các hoạt động TMÐT; Ðối với kiến thức TMÐT về phương diện kinh doanh, chiến lược và nhận thức của nhà đầu tư: Ðây vẫn có thể coi là một bài toán nhiều ẩn số đối với những người đã và đang chuẩn bị quan tâm tới TMÐT và cơ hội phát triển của nó. Ðây được coi là một trong những yếu tố cần quan tâm hàng đầu cho kế hoạch phát triển TMÐT của Việt Nam.

 

Ðối với cộng đồng cũng vậy, số lượng người truy cập internet ngày càng tăng cao và đã có những dấu hiệu tích cực về nhận thức của việc sử dụng dịch vụ internet, tuy nhiên cũng còn rất hạn chế so với kỳ vọng vì đó là yếu tố quan trọng tạo nên nền TMÐT phát triển; Vai trò lãnh đạo của Nhà nước và các yếu tố pháp lý: Ðây phải được coi là yếu tố hàng đầu cho sự phát triển TMÐT. Tuy nhiên hiện nay ẩn số này vẫn chưa thể giải đáp bởi trong khi hạ tầng viễn thông và internet trong nước tiến vượt bậc, môi trường pháp lý vẫn không thay đổi.

 

Trong khi  khối doanh nghiệp năng động với thời cuộc và công nghệ thì với các cơ quan chuyên trách vẫn tỏ ra chậm chạp trong việc tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để TMÐT phát triển. Luật Giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực sau hai năm soạn thảo. Tốc độ  ra đời của một bộ  luật như vậy phần nào nói lên nhu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, hiện chưa có bất kỳ văn bản hướng dẫn nào được thông qua để luật đi vào cuộc sống.

 

Báo cáo TMÐT năm 2005 của Bộ Thương mại nhận định tuy đã tạo ra nền tảng pháp lý cho các giao dịch điện tử trong thương mại, Luật Giao dịch điện tử vẫn không thể hiện hết những đặc trưng riêng của thương mại điện tử, do vậy cần có các văn bản dưới luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã đề xuất năm nghị định bao gồm: Thương mại điện tử; Giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng; Giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính; Chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Giao dịch điện tử trong các cơ quan nhà nước. Ðó là những lĩnh vực đang rất bức xúc và cần sớm có văn bản hướng dẫn để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.

 

Tất cả những diễn biến nêu trên phần nào cho chúng ta thấy hiện trạng TMÐT của Việt Nam hiện nay, thể hiện thực lực, tiềm năng và xu hướng phát triển của lĩnh vực này. Ðể TMÐT Việt Nam phát triển đúng với xu hướng và xứng tầm với tiềm năng của nó, thiết nghĩ cần tập trung xoáy sâu vào các yếu tố nền tảng tạo nên và thúc đẩy sự phát triển của TMÐT đã nêu trên. Tập trung đầu tư hơn nữa cho hạ tầng cơ sở công nghệ, cần có sự đầu tư bài bản, trọng tâm và trọng điểm, để từng bước theo kịp với sự phát triển CNTT và viễn thông trong khu vực.

 

Thu hút sự quan tâm của người dân tới truyền thông internet, khuyến khích làm quen và tiến tới nâng cao nhận thức trước vấn đề TMÐT bằng cách tạo điều kiện hơn nữa về cơ sở hạ tầng và chi phí sử dụng để người dân tiếp cận với truyền thông internet tốt nhất. Tập trung cho phát triển nguồn nhân lực chuyên môn, mở rộng đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành về thương mại và công nghệ, để tới năm 2010 chúng ta có thể đáp ứng nhân lực cho hầu hết các doanh nghiệp tham gia TMÐT theo kế hoạch phát triển TMÐT của Chính phủ đã nêu trên. Ðẩy mạnh việc nâng cao kiến thức TMÐT về phương diện kinh doanh, chiến lược và nhận thức của nhà đầu tư, giải quyết sự nhận thức mơ hồ về TMÐT đối với nhiều nhà quản lý và hoạch định chính sách và những nhà quản trị doanh nghiệp, để họ làm quen và tiến tới vào cuộc thật sự trước xu hướng phát triển TMÐT hiện nay.

 

Và cuối cùng là nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo và sự quyết định của luật pháp, đó là vấn đề mấu chốt mở thông lộ trình TMÐT và hành lang pháp lý tối ưu tạo sự bền vững cho nó. Ðó có thể coi là những vấn đề mấu chốt làm nền tảng và động lực thúc đẩy TMÐT nước ta trên lộ trình tới năm 2010, bắt kịp tốc độ phát triển TMÐT trong khu vực và trên thế giới.

Nguồn: nhandan.com.vn

Tác giả bài viết: Hà Hương
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 181/2019 new (1)

Market Ban tin so 181 bia small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 6 2019 small