04:51 ICT Thứ tư, 18/09/2019
Rss Feed

Những kết quả sử dụng thiên địch để phòng trừ sâu tơ hại rau cải ở Đông Nam Á

Đăng lúc: Thứ tư - 12/07/2006 07:20 - Người đăng bài viết: Administrator

 

Từ năm 1985 trở lại đây, vùng trồng rau cao cấp Đà Lạt đã sử dụng rộng rãi các loại thuốc trừ sâu đặc biệt được tổng hợp từ hoạt chất của cây Cúc (Pyrethroide), nên đã tạo điều kiện cho nhiều loại thiên địch của sâu tơ phát triển. Mặt khác, nông dân Đà Lạt đã hình thành được tập quán sử dụng thuốc trừ sâu sinh học để phòng trừ sâu tơ, nhờ đó tình hình sâu tơ hại rau cải ở Đà Lạt đã được khắc phục. Phần lớn rau cải được sản xuất từ đông xuân 1993-1994 đến nay đã không dùng thuốc trừ sâu hóa học, mà vai trò của thiên địch sâu tơ được đánh giá rất cao.

Nhằm giúp cho nông dân tại các vành đai xanh đô thị hạn chế dùng thuốc trừ sâu trên rau cải, chúng tôi xin lược dịch các báo cáo kết quả của một số nước lân cận với chúng ta và bài báo của Giáo sư Tôn Thất Trình.

Những loại rau cải thuộc họ Thập tự (Brassiceae) như bắp cải (B. oleracea var. capitata L.), cải bông (B. oleracea var. botrytis L.), brocoli (B. oleracea var. italica L.), cải thảo (B. campestria spp. pekinensis Rupr.) và nhiều loại tương tự là những loại rau quan trọng được trồng nhiều ở miền Đông Nam châu Á, bao gồm Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Taiwan, Việt Nam, Lào, Campuchia.

Sâu tơ Plutella xylostellae (L.) - ấu trùng của DBM (Diamond Back Moth) - là loại côn trùng phá hoại trên rau cải, chúng là mối đe dọa chính cho những vùng sản xuất rau. Côn trùng này có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, hiện nay đã phân bố khắp thế giới. Tại trung tâm cội nguồn của chúng, một phức hợp những kẻ thù tự nhiên đã giữ chúng dưới mức phòng chống. ở những vùng mới, côn trùng này phát triển nhanh chóng vì thiếu kẻ thù tự nhiên (thiên địch). Sâu tơ ăn trên tán lá từ giai đoạn nảy mầm cho đến khi thu hoạch và làm giảm sản lượng 100% nếu không phòng trừ được. Mặt khác, loại côn trùng này có thể sống và hoạt động trong một phổ khí hậu rộng từ nhiệt đới ẩm đến ôn đới, vì vậy việc khống chế chúng là một vấn đề hết sức khó khăn.

Việc sử dụng những loại thuốc trừ sâu hữu cơ tổng hợp để phòng chống sâu tơ vào đầu những năm năm mươi đã đạt được hiệu quả bước đầu, do đó những phương pháp phòng chống khác ít được chú ý, sâu tơ đã hình thành tính kháng với các loại thuốc hóa học. Thay vì nghiên cứu một phương pháp phòng trừ thay thế, người ta lại cố gắng đưa vào vùng Đông Nam Á những hóa chất mới hơn, kết quả là những điều kiện lý tưởng của vùng nhiệt đới đã dẫn đến việc chọn lọc ra những nòi sinh học kháng thuốc ở vùng này nhanh hơn bất kỳ nơi nào.

Trước tình hình này, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á (AVRDC) đã tập trung vào việc tìm kiếm một phương pháp phòng chống thay thế để giảm bớt sự phụ thuộc vào thuốc hóa học. Sự thay thế có ý nghĩa nhất là sử dụng những tác nhân phòng chống sinh học: "Khi vật gây hại là một côn trùng ngoại lai, hình thức tương tự là nhập những kẻ thù tự nhiên từ bản xứ của nó".

Chương trình Quản trị dịch hại tổng hợp "IPM" áp dụng cho sâu tơ đã được tiến hành đồng loạt từ Indonesia, Taiwan, Philippines, Malaysia... Các nước này đã di nhập nhiều loại thiên địch ký sinh trên sâu tơ như Costesia plutellae (CP), Diadegma semiclausum (DS), Diadromus collaris (DC), Trichogramatoidae bactrea (TB) ... và thả ra những vùng chúng không được tìm thấy hoặc có số lượng thấp. Hiện tại, dạng ký sinh được củng cố ở vùng cao của hầu hết các nước là Diadegma semiclausum (DS). Chúng thường đẻ trứng lên ấu trùng sâu tơ tuổi 2, khoảng 8 ngày sau, sâu non của ký sinh sẽ chui ra khỏi sâu tơ và kéo kén bên cạnh chủ đang chết dần. Sau khi thoát kén, con trưởng thành sẽ tiếp tục việc đẻ trứng lên sâu tơ. Một con cái ký sinh trung bình 117 ấu trùng sâu tơ.

Năm 1985, AVRDC nhập DS vào Taiwan từ Indonesia, tại đây ký sinh chỉ thích hợp ở vùng cao nguyên, nơi có khí hậu tương đối lạnh. DS ký sinh mức độ cao ở nhiệt độ từ 15 đến 25oC và giảm khi nhiệt độ lớn hơn 25oC. Thí nghiệm trên bắp cải ngoài đồng cho thấy mức độ ký sinh tăng dần từ 13,1% đến 64,5% (từ khi trồng đến 6 tuần trước khi thu hoạch) và sản lượng gia tăng một cách rõ ràng.

Việc giảm sử dụng thuốc hóa học cũng làm xuất hiện lại một số ký sinh địa phương. Năm 1988, tại Wuling (1.700 m so với mặt biển), 2 năm sau khi thả DS, quần thể DBM bị ký sinh bởi cả 2 loài: DS 46% và CP 11%. Việc di nhập thiên địch ký sinh vào Taiwan đã tiết kiệm hơn 10 tỷ NT (370.000 USD) tiền thuốc diệt côn trùng trong một năm. Tuy nhiên, chỉ với DS không đủ để khống chế quần thể DBM khi nhiệt độ lên cao, khi đó chỉ bổ sung một ít thuốc trừ sâu sinh học như BT là đạt được mức phòng trừ bằng ký sinh.

Tại Malysia, con đường đấu tranh sinh học được bắt đầu từ Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaysia (MARDI). Người ta phát hiện ở vùng cao nguyên Cameron một loài thiên địch ký sinh là CP, không giống với loài CP ở địa phương. Nó đến một cách ngẫu nhiên vào cuối những năm 1960. Mức độ ký sinh trung bình từ 12,3 đến 19,1%, cho thấy đó là ký sinh không mấy hiệu quả.

Chương trình IPM sẽ tốt hơn nếu có nhiều loài ký sinh cũng hoạt động trên DBM ở những giai đoạn khác nhau. Vì vậy, trong 4 loài ký sinh đã được nhập vào Cameron từ Ấn Độ, Úc, Indonesia chỉ có hai loài được củng cố là DS và DC (DC là loại ký sinh nhộng). Từ đây đã hình thành một phức hợp kẻ thù tự nhiên liên kết với DBM. DS và CP là 2 ký sinh chính tấn công lên giai đoạn ấu trùng, những ấu trùng trốn thoát sự ký sinh này sẽ bị DC tấn công ở giai đoạn nhộng, tất cả các ký sinh làm việc với nhau để đạt mức điều khiển sinh học tự nhiên và BT được dùng như một yếu tố bổ sung. Thực nghiệm ở cao nguyên Cameron đã nhấn mạnh vai trò của thiên địch trong phòng chống DBM.

Tại Philippines, chỉ có một kẻ thù tự nhiên là CP có tầm quan trọng trong điều khiển DBM, mức độ ký sinh đạt đến 70% nhưng hiệu quả của nó giảm đến 80% do bị siêu ký sinh và bị ảnh hưởng của thuốc hóa học.

Vào tháng 3.1989, dự án bảo vệ thực vật Philippines - German cho nhập DS từ Taiwan để thử khả năng ký sinh của nó trong điều kiện của Philippines, thử nghiệm ngoài đồng cho thấy mức độ ký sinh đạt 12-15% và gia tăng đến 64% ở thời gian gần thu hoạch. Việc nhập khẩu và thả ra đồng để củng cố giống DS mới này thường không đạt do DS nhanh chóng lẫn vào trong hệ thống cân bằng sinh thái, nó có thể bị tấn công bởi siêu ký sinh. Cân bằng tự nhiên của quần thể DBM và thiên địch chỉ có thể đạt đến ngưỡng kinh tế, nghĩa là thiệt hại cho cây trồng ở mức độ chấp nhận được, trước mức này việc sử dụng BT là cần thiết.

Những kết quả trong phòng chống DBM đã đưa đến mục tiêu cho chiến lược IPM, chiến lược hợp nhất những vấn đề xã hội, kinh tế, sinh thái. Đẩy mạnh việc sử dụng thiên địch được nhập và thiên địch bản xứ, phối hợp với BT khi quần thể DBM đạt đến ngưỡng kinh tế (ETL), chắc chắn quần thể DBM sẽ được điều khiển có hiệu quả. Chiến lược IPM đã thành công ở nhiều quốc gia, nhờ vậy chúng ta mới tránh được những hậu quả của thuốc hóa học và phức hợp cân bằng giữa vật gây hại với kẻ thù tự nhiên có thể được duy trì. Tuy nhiên, dự án hoạt động này chỉ có thể đạt hiệu quả khi có sự ủng hộ của chính quyền một cách tương xứng và đầy đủ.

Lược dịch từ các báo cáo:

- Pio A. Javier and Jose R. Medina, IPM đối với vật gây hại cây họ thập tự ở các tỉnh miền núi.

- Andreas Poelking, DBM ở Philippines và việc phòng chống nó bằng DS.

- Peter A. C. Ooi, Vai trò của ký sinh trong khống chế DBM ở cao nguyên Malaysia.

- Tôn Thất Trình, Ngừa trị sâu tơ hại cải, Phụ san Khoa học phổ thông, số 234, 1994.  

Nguồn: Thông tin khoa học, công nghệ Lâm Đồng, 1995, số 1

 

Tác giả bài viết: Đoàn Nam Sinh – Lê Thị Kim Yến
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 181/2019 new (1)

Market Ban tin so 181 bia small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 6 2019 small