00:03 ICT Thứ bảy, 17/11/2018
Rss Feed

Quan hệ giữa Quảng Nam và Hạ Lào trong kháng chiến chống Pháp

Đăng lúc: Thứ sáu - 07/12/2007 08:20 - Người đăng bài viết: Administrator

 
Quan hệ giữa Quảng Nam và Hạ Lào trong kháng chiến chống Pháp

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng mà trực tiếp là đồng chí Phạm Văn Đồng, quân và dân Quảng Nam không những vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu đầy cam go để chống lại sự chiếm đóng, bình định của giặc Pháp ở phía bắc quảng Nam (từ bờ Bắc Sông Bà Rén trở ra), vừa phải bảo vệ và xây dựng vùng tự do ở phía Nam Quảng Nam, mà còn phải đảm đương một nhiệm vụ quốc tế hết sức trọng đại là chi viện sức người, sức của cho chiến trường Hạ Lào suốt từ năm 1948 - 1954…

Đầu năm 1948, Trung ương Đảng và Bộ Tư Lệnh quân đội ta đã đề ra chủ trương cụ thể về việc tăng cường chi viện, phối hợp với cuộc kháng chiến của quân và dân Lào anh em. Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng. Bộ Tư Lệnh quân khu V đã lệnh cho trung đoàn 93 (lúc này đang chiến đấu tại phòng tuyến ở bắc sông Thu Bồn) cử một tổ công tác do các đồng chí Cao Thượng Thuỷ, Võ Đắc và Nguyễn Để mang bức thư của đồng chí Phạm Văn Đồng vượt Trường Sơn qua Hạ Lào sang Thái Lan để trao cho hoàng thân Xuphanuvông (lúc này là Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao kiêm tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Lào). Suốt hơn một tháng vượt núi băng rừng qua vùng kiểm soát của địch ở Hạ Lào, tổ công tác cuối cùng cũng đặt chân lên đất Thái Lan. Được sự giúp đỡ nhiệt tình của Đặc uỷ Việt kiều,  tổ công tác đã tận tay trao bức thư đến Hoàng thân Xuphanuvông. Hoàng thân vô cùng cảm kích và hết lời cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Đảng, Chính phủ Việt Nam và đồng chí Phạm Văn Đồng.

Ngay sau đó Hoàng thân đã cử đồng chí Xổmmanôviêng đưa một trung đội bộ đội Lào do các đồng chí Khămxẻn, Thảvon Xỉchalơn và Keo Luồngxểnả chỉ huy, phối hợp cùng với một trung đội Việt kiều do đồng chí Đinh Văn Toàn (cán bộ của đặc uỷ Việt kiều) chỉ huy, từ Usôn (Thái Lan) hành quân khẩn cấp qua các vùng kiểm soát của địch ở Hạ Lào, theo tổ công tác của đồng chí Cao Thượng Thuỷ vượt Trường Sơn sang Khu V. Trải qua bao khó khăn, vất vả trên đường đi, đến cuối tháng 6 - 1948, đơn vị liên quân Việt - Lào mới về đến Quảng Nam và tiếp tục hành quân vào Quảng Ngãi. Tại đây, đồng chí Xổmmanôviêng và đồng chí Đinh Văn Toàn được đồng chí Phạm Văn Đồng cùng Bộ Tư Lệnh Khu V tiếp đón và làm việc. Đồng chí Xổmmanôviêng trình bức thư của Hoàng thân Xuphanuvông về việc yêu cầu Việt Nam giúp đỡ xây dựng, phát triển phong trào kháng chiến ở Hạ Lào. Qua trao đổi nhất trí, ngày 10 - 7 - 1948, đồng chí Phạm Văn Đồng đã ký quyết định thành lập khu đặc biệt do đồng chí Trần Công Khanh làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Chính Cầu (tức Nguyễn Chính Giao) - trưởng phòng chính trị Khu V - làm chính uỷ. Lực lượng được cử sang giúp cách mạng Lào đợt này gồm hơn một đại đội dược chọn lọc từ cán bộ, chiến sỹ của cơ quan Bộ Tư Lệnh Khu V, Trung đoàn 93. Ngoài ra, đồng chí Phạm Văn Đồng còn trực tiếp chọn ra 19 cán bộ chính trị quê các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (Quảng Nam có 3 người: Nguyễn Văn Nghiệp, quê Điện Bàn; Đỗ Ngô, quê Quế Sơn; Ngô Xuân Hồng, quê Tiên Phước) trong số 300 cán bộ đang học văn hoá tại Trường Trung Học bình dân Nam Trung Bộ để cử sang Lào phụ trách công việc dân vận.

Ảnh 2: Ban chỉ huy bộ đội Việt và Lào trong kháng chiến chống Pháp (người đeo súng đứng ở giữa là ông Xithon).
Ảnh 2: Ban chỉ huy bộ đội Việt và Lào trong kháng chiến chống Pháp (người đeo súng đứng ở giữa là ông Xithon).
Sau hơn 1 tháng chuẩn bị, lực lượng được cử sang giúp nước bạn Lào được đưa về tập kết tại  Xã Tam Đàn, Huyện Tam Kỳ. Ngày 19- 8 - 1948, đơn vị làm lễ xuất quân lên đường làm nghĩa vụ quốc tế. Theo lộ trình, đơn vị xuất phát từ Tam Đàn đến Thăng Bình qua Quế Sơn rồi lên Phước Sơn, sau đó vượt Biên Giới sang đất Lào. Sau hai tuần lễ hành quân dưới trời mưa tầm tã, vượt qua bao suối sâu, đèo cao của Dãy Trường Sơn, đoàn quân tình nguyện đã đến được địa điểm Tà Ngô (phía Tây Quảng Nam), nơi đóng quân của sở chỉ huy đặc biệt, nằm sát biên giới Việt - Lào.

Tháng 2 - 1949, Hoàng thân Xuphanuvông nhân danh chính phủ Lào, cử đồng chí Khăm Tày Xiphănđon (nay là chủ tịch Đảng NDCM Lào, Chủ tịch nước Cộng Hoà Dân chủ Nhân dân Lào) cùng với đồng chí Xithômcômmadăm chỉ huy một trung đội quân Lào đi cùng một trung đội Việt kiều (do đồng chí Nguyễn Đình Hin phụ trách) mang công hàm của chính phủ Lào sang Việt Nam gặp đồng chí Phạm Văn Đồng. Nội dung bức công hàm đề nghị Chính phủ ta giúp đỡ Lào thành lập khu kháng chiến Hạ Lào do đồng chí Xithôncômmadăm làm Khu trưởng, đồng chí Xổmmanôviêng làm Chủ tịch chính quyền khu, và đồng chí Khăm Tày Xiphănđon làm đại diện của Chính phủ Lào. Trước yêu cầu của nước bạn, đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Nguyễn Thế Lâm (tư lệnh Khu V) quyết định giải thể khu đặc biệt và thành lập khu căn cứ kháng chiến Hạ Lào. Đồng thời, phía ta cũng lập ra đoàn cố vấn để giúp cho phía bạn do đồng chí Nguyễn Chính Cầu làm trưởng phái đoàn, đồng chí Trần Huyên làm phó trưởng phái đoàn, phụ trách quân sự: đồng chí Đoàn Kim (uỷ viên ban kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Nam, Trưởng phòng Biên chính) làm uỷ viên phụ trách chính quyền. Tỉnh Quảng Nam được đồng chí Phạm Văn Đồng giao nhiệm vụ làm hậu phương, trực tiếp giúp đỡ cho các đơn vị của ta và bạn trên chiến trường Hạ Lào.

Sau một thời gian dài hoạt động ở vùng núi phía Tây Trường Sơn khắc nghiệt, dân cư thưa thớt, phía ta và bạn chủ trương chuyển trọng tâm hoạt động vào các vùng đồng bằng đông dân ở phía Tây sông Xêkông để có thể mở rộng địa bàn, phát triển lực lượng dành thế chủ động. Chủ trương trên được khu uỷ Khu V nhất trí và tăng cường thêm hai đại đội (đại đội 44 và đại đội 100) cho Hạ Lào: Đồng thời đồng ý cho đại bộ phận lực lượng của ta và Lào rút về Quảng Nam để nghỉ ngơi, học tập, luyện quân tránh mùa mưa lũ ở miền núi, chuẩn bị mọi mặt để tiến quân vào vùng hậu địch khi mùa khô đến. Từ tháng 5 đến tháng 9 - 1949, các lực lượng của ta và bạn rút về vùng xã Tam Dân, Tam Thái (Tam Kì) để chỉnh huấn quân sự, chính trị, học tập tiếng, chữ Lào. Nhân dân các xã Tam Dân, Tam Thái đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hơn 600 cán bộ chiến sĩ của các đơn vị bạn và ta ăn, ở, sinh hoạt, học tập. Các mẹ, các chị trong Hội mẹ, chị binh sĩ nhiệt tình chăm sóc các anh em ốm đau: gần gũi động viên các chiến sĩ, không phân biệt Việt Lào. Nhiều gia đình đã nhận các chiến sĩ Việt, Lào làm con em kết nghĩa. Đến giữa năm 1950, hơn 200 tân binh của nước bạn Lào lại được đưa về Tam Dân (Tam Kỳ) huấn luyện. Bà con ở đây cũng tận tình cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ tận tình…

Nói về mối quan hệ giữa Quảng Nam và Hạ Lào, không thể không nói đến các hoạt động của phòng Biên Chính thuộc uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ đóng trên đất Quảng Nam và sự đóng góp về nhân tài, vật lực của nhân dân Quảng Nam trong suốt 7 năm (từ năm 1948 - đến 1954). Phòng biên chính được thành lập và đóng địa bàn tại tỉnh Quảng Nam vào đầu năm 1948, do đồng chí Đoàn Kim (uỷ viên thư kí UBKCHC Quảng Nam) làm chủ nhiệm và đồng chí Trần Minh Huấn làm chủ sự. Phòng biên chính lấy bí danh là cơ quan 12, có nhiệm vụ giữ liên lạc, quan hệ giữa Ban cán sự Hạ Lào với khu uỷ V và tỉnh Quảng Nam để giải quyết các yêu cầu của chiến trường theo sự phân công của UBKCHC Nam Trung Bộ; tổ chức việc tiếp tế vận tải cho chiến trường; đón tiếp cán bộ chiến sĩ, thương bệnh binh Việt Lào qua lại. Phòng biên chính lúc bấy giờ được tổ chức thành hai bộ phận là văn phòng Hành chính - Tổ chức và Quản trị - Hậu cần. Bộ phận văn phòng do đồng chí Trần Minh Huấn phụ trách, bộ phận Quản trị - Hậu cần do đồng chí Nguyễn Tấn Tồn phụ trách. Khi mới thành lập cơ quan biên chính đóng ở Tân An (bên bờ sông Tranh, huyện Trà My). Sau chuyển về xã Tiên Phong (huyện Tiên Phước). Nhưng để tiện cho việc giao thông đi lại, quan hệ với khu V và tỉnh Quảng Nam, cơ quan 12 được chuyển về đóng ở xã Tam Dân Tam Kì). Về danh nghĩa thì phòng biên chính thuộc UBKCHC Nam Trung Bộ nhưng mọi hoạt động cụ thể phải dựa trực tiếp vào sự giúp đỡ và hỗ trợ của tỉnh Quảng Nam, đặc biệt là các huyện Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn, Phước Sơn, Giằng. Những huyện này đã trở thành hành lang hậu cứ vững chãi với hệ thống trạm, trại, kho tàng… phục vụ tích cực cho chiến trường Hạ Lào. Với nhiệt tình và sự giúp đỡ vô tư vì nghĩa vụ quốc tế đối với Lào, các huyện, xã của Quảng Nam sẵn sàng đáp ứng khi có yêu cầu. Bệnh xá Trung Phước, Bệnh viện tỉnh ở Tam Kỳ sẵn sàng đón nhận các thương bệnh binh Việt - Lào từ chiến trường về điều trị, an dưỡng. Từ cuối năm 1949 đến đầu năm 1950 trở đi, Quảng Nam còn chi viện hàng trăm cán bộ huyện, xã có kinh nghiệm về công tác cơ sở, công tác dân vận, công tác phát động chiến tranh nhân dân. Nhiều cán bộ công nhân lành nghề cùng với phương tiện, dụng cụ được cử sang giúp bạn chăn nuôi, trồng trọt, nấu muối, rèn, dệt thủ công, làm giấy… Hàng trục ngàn lượt dân công Quảng Nam phục vụ việc vận tải tiếp tế cho chiến trường Hạ Lào, chủ yếu bằng gồng gánh, gùi vác bằng sức người. Trong lực lượng dân công thì ngoài người Kinh, đồng bào dân tộc Cơ Tu ở huyện Giằng (Tây Quảng Nam) cũng tham gia tích cực. Ngoài vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng do Khu V cung cấp, còn hầu hết lương thực thực phẩm, các nhu yếu phẩm tối thiết yếu khác cung cấp cho lực lượng của ta và bạn cũng như một phần cho nhân dân Lào đều được huy động từ Quảng Nam. Tất cả các đơn vị khi xuất quân sang chiến trường, đều được các kho hậu cần trên đất Quảng Nam cung cấp cho mỗi người 10 kg gạo, 3 kg thực phẩm và muối. Đặc biệt là những năm đầu bị đich bao vây kinh tế, bộ độ ta, bạn và hang vạn nhân dân Lào trong vùng hoạt động của ta và bạn không có muối ăn phải ăn tro cỏ tranh thay muối, thì Quảng Nam đã cung cấp cho hàng trăm tấn muối lên biên giới để các đoàn dân công tiếp nhận để đem về phân phối lại cho nhân dân Hạ Lào.

Sự chi viện lớn lao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Nam cho Hạ Lào trong kháng chiến chống Pháp không thể nào cụ thể hoá bằng những con số nhưng điều ý nghĩa nhất còn mãi khắc ghi trong tâm trí nhân dân ta và nước bạn Lào là tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Trong các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam của Khu V chiến đấu trên chiến trường Hạ Lào, số chiến sĩ quê Quảng Nam chiếm số lượng khá đông và hàng trăm chiến sĩ tình nguyện quê Quảng Nam đã chiến đấu ngoan cường và đã anh dũng hy sinh trên đất bạn mà tới nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Nhiều cán bộ, chiến sĩ tình nguyện quê Quảng Nam đã trở thành những chuyên gia có uy tín với nước bạn và đã gắn bó cả cuộc đời hoạt động của mình với cách mạng Lào cho đến lúc nghỉ hưu được Đảng, Nhà nước, nhân dân Lào rất mực tin yêu, tặng thưởng nhiều huân huy chương cao quý như các đồng chí Trần Phát, Trần Ngọc Dung, Nguyễn Văn Nghiệp, Nguyễn Việt, Nguyễn Thành Doãn, Nguyễn Xuân Mai, Lê Viết Muồng… Trong những năm kháng chiến chống Pháp nhiều đồng chí quê Quảng Nam như: Ngô Như Bá, Đỗ Xuân Sơn, Nguyễn Chương, Võ Chạy… đã để tóc dài, đóng khố, ở trần, nói tiếng dân tộc, hoá thân thành người địa phương để vận động nhân dân ở Hạ Lào tham gia cách mạng. Một số cán bộ nữ ở Quảng Nam như: Nguyễn Thị Hưởng, Phan Thị Liêu… cũng tình nguyện sang Hạ Lào công tác và chiến đấu cùng các đơn vị bạn.

Trong những năm 1948 đến năm 1954, Quảng Nam thật sự trở thành hậu phương vững chãi của chiến trường Hạ Lào và Quảng Nam đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà đồng chí Phạm Văn Đồng (lúc bấy giờ là đại diện Trung ương Đảng), cũng như nhiệm vụ mà Khu uỷ Khu V, UBKCHC Nam Trung Bộ và Chính phủ giao phó.

Hiện nay, trong cả nước còn khoảng 1.000 cựu quân tình nguyện, cán bộ và chuyên gia quân sự Việt Nam đã từng tham gia chiến đấu, hoạt động ở chiến trường Hạ Lào trong những năm kháng chiến chống Pháp. Riêng ở Quảng Nam thì ngoài 20 người đã mất sau chiến tranh, số đông đang sống rải rác ở 10 huyện, thị, thành phố trong tỉnh (Tam Kỳ, Phú Ninh, Núi Thành: 65 đồng chí; Thăng Bình: 63; Quế Sơn: 61; Duy Xuyên: 59; Điện Bàn: 61; Hội An: 35; Đại Lộc: 35 và Tiên Phước: 16). Hầu hết những đồng chí này tuổi đã cao (từ 70 đến 90 tuổi), sức khoẻ đã yếu. Và niềm mong mỏi lớn nhất của những cựu quân tình nguyện, cán bộ và chuyên gia quân sự Việt Nam đã từng tham gia chiến đấu và hoạt động ở chiến trường Hạ Lào của cả nước nói chung và của tỉnh Quảng Nam nói riêng là xây dựng một tượng đài truyền thống quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt Việt Lào trên đất Quảng Nam (*).

Chú thích:

Theo tài liệu của các đồng chí cựu quân tình nguyện Việt Nam ở Lào cung cấp.

Nguồn: Xưa & Nay, số 283, tháng 5 - 2007, tr 23

Tác giả bài viết: Mai Hồng Lâm,
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 172/2018 new (1)

Market Ban tin so 172 trang 1 7 11 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2018 small