00:00 ICT Thứ bảy, 17/11/2018
Rss Feed

Quốc ca Việt Nam cuộc hành trình tiếp tục

Đăng lúc: Thứ hai - 30/06/2008 16:41 - Người đăng bài viết: Administrator

 
Quốc ca Việt Nam cuộc hành trình tiếp tục

Chúng tôi giới thiệu quá trình sáng tác và việc chọn bài Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946. Nhưng tình hình chính trị phức tạp thời đó đã dẫn đến nhiều ý đồ thay đổi bài quốc ca cùng với sự hình thành những bài “quốc ca” khác khi đất nước bị chia cắt. Phần tiếp theo của tác giả này đã hoàn chỉnh phần nào lịch sử hình thành quốc ca ở nước ta.

“Việt Nam, Minh châu trời Đông”

Sau khi Nhật đầu hàng tháng Tám 1945, lực lượng Đồng Minh phân chia khu vực quản lý hành chính Việt Nam giữa quân Trung Quốc ở miền Bắc và quân Anh ở miền Nam. Cả hai lực lượng này cuối cùng cũng đã trao quyền lại cho quân Pháp. Vào lúc này, Việt Nam có nhiều đảng phái chính trị mà trong đó Việt Minh được tổ chức tốt nhất. Trước khi gửi lời quốc ca vào Nam, những người cách mạng miền Bắc đi Nam tiến dạy “Tiến quân ca” cho những đám đông tuần hành trên phố trong cao trào Tổng Khởi nghĩa ngày 25 tháng Tám 1945 (1). Ở Sài Gòn khi đó, mọi người vẫn chào cờ và hát bài “Quốc dân hành khúc” - một tên gọi biến đổi của bài hành khúc của Lưu Hữu Phước (2).

Mùa xuân năm 1946, Việt Minh đứng ra giúp tổ chức cuộc bầu cử quốc hội để lập một chính phủ lâm thời. Trong những ngày đầu của chính quyền, quốc kỳ và quốc ca vẫn được đưa ra bàn luận. Vào lúc này, “Tiến quân ca” về lý vẫn là bài đảng ca của Việt Minh, và Văn Cao về mặt xuất thân là một thành viên của Đảng Dân Chủ, thực chất là một bộ phận ủy nhiệm của Việt Minh (3). Đảng Đại Việt và Quốc Dân đảng hợp nhất với nhau và vào tháng 11 - 1945 đã quyết định “Việt Nam, Minh châu trời Đông” của Hùng Lân là bài đảng ca của họ (4). Bài hành khúc phổ thông này kêu gọi đấu tranh và hi sinh, nhưng nhấn mạnh đến sự hùng vĩ của “non sông như gấm hoa” và “tiếng anh hùng tạc ghi núi sông”.

Cuối cùng nhờ sự thắng thế của Việt Minh và các đảng đồng minh trong chính phủ, “Tiến quân ca” được phê chuẩn làm Quốc ca vào ngày 8 tháng 11 - 1946 (5). Quốc ca là một yếu tố trong việc củng cố quyền lực của Việt Minh và trong phạm vi ảnh hưởng tâm lý của nhà nước mới. “Tiến quân ca” đã được hát ở Pháp và Tây Đức đều trong năm 1946 (6). Văn Cao kể chuyện một Việt kiều Pháp đã kể lại đầy tự hào khi nghe ban nhạc quân đội Pháp chơi “Tiến quân ca” tại sân bay ở Pháp khi Hồ Chí Minh bước xuống máy bay sang dự thương thuyết. (7). Cùng năm đó quốc gia non trẻ này xuất bản một tờ gấp bằng tiếng Anh trong nhiệm vụ ngoại giao tại Thái Lan trong đó có nhạc và lời dịch Quốc ca.

“Tiếng gọi công dân” Quốc ca Việt Nam Cộng hoà

Trong khi những người kháng chiến đang tăng cường lực lượng trên rừng núi, Pháp tiến hành thành lập một thực thể chính trị bản địa thay thế Việt Minh. Một nhóm địa chủ và doanh nhân người Việt ở miền Nam than Pháp thành lập Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc. Họ lấy một đoạn lời dịch [của Đoàn Thị Điểm] trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn từ thế kỷ 18 và được một thầy giáo tên Võ Văn Của tạo ra quốc ca của họ (8). Ngày 6 tháng 6 - 1948, với sự trợ giúp của Pháp, Nguyễn Văn Xuân và Bảo Đại thành lập một chính phủ lâm thời song song (9). Cố vấn Nguyễn Tôn Hoàn, một bạn cùng học y khoa và cùng hoạt động trong Tổng hội Sinh viên AGEL với Lưu Hữu Phước, đề xuất dùng “Thanh niên hành khúc” với việc thay từ “công dân” cho từ “thanh niên” (10). Tác giả phản đối mạnh mẽ việc “chính phủ bù nhìn” này dùng sáng tác của ông để “buôn dân bán nước” (11).

Việc sửa chữa lặp đi lặp lại nhiều lần lời ca, có khi được gọi là “Tiếng gọi công dân”, tiếp tục được dùng làm quốc ca trong suốt thời kỳ tồn tại của chính quyền Bảo Đại. Năm 1956 quốc hội miền Nam Việt Nam, ý thức về sự có mặt và hoạt động của Lưu Hữu Phước ở phía Bắc vĩ tuyến 17, đã tổ chức một cuộc thi nhằm tuyển chọn một quốc ca mới. Ba mươi bài hát đã được gửi đến cuộc thi (12). Phạm Duy, nhạc sĩ nổi tiếng nhất ở miền Nam, đã được mời tham gia cuộc thi. Ông đã gửi một bài “âu ca” có tên “Chào mừng Việt Nam” (13). Bài “Việt Nam, Minh châu trời đông” của Hùng Lân cũng nằm trong số sáu bài hát cuối cùng được biểu diễn cho các đại diện chính phủ, cùng với bài “Suy tôn Ngô Tổng thống” với nhạc của Ngọc Bích và lời của Thanh Nam (14). Bản quốc ca mang mầu sắc chủ nghĩa nhân vị này thúc giục nhân dân cùng đi với Ngô Đình Diệm để “chống Cộng, bài phong kiến bóc lột, diệt thực dân rắc reo tàn khốc”. Mặc dù chính quyền miền Nam không dám tự chọn làm quốc ca, “Suy tôn Ngô Tổng thống” vẫn được trình diễn trong tiết mục ghép với “Tiếng gọi công dân” tại nơi làm việc, chỗ trẻ con đi học, trước các buổi hoà nhạc và ở các rạp chiếu phim (15). Mặc dù có nhiều lời đề nghị thay thế, bài ca của Lưu Hữu Phước vẫn là quốc ca của miền Nam Việt Nam cho đến 1975, và tiếp tục được những người Việt kiều chống đối chính quyền cộng sản hát cho đến hôm nay.

“Giải phóng miền Nam

Trong những nhiệm vụ bí mật được xác định để thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1960, Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam liên hệ với Lưu Hữu Phước về việc viết một bài hát về một cuộc “tổng khởi nghĩa” ở miền Nam (16). Trong một hồi ký, nhạc sĩ kể về những bài học chính trị ông tiếp nhận trong khi chuẩn bị viết một vài hát như vậy. Với bài hát này, mà ông đặt tên là “Giải phóng miền Nam”, ông muốn những người đồng hương “Thấy rõ kẻ thù, thấy triển vọng lạc quan của cuộc chiến đấu, do đó thấy phải đoàn kết đuổi Mỹ, lật Nguỵ, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước” (17).

Bài hát này không mơ hồ về kẻ thù - “đế quốc Mỹ” và “bè lũ bán nước”. Lúc này “sông núi” tức đất nước đã bị chia cắt và một nhân dân anh hùng được kêu gọi đứng lên với lòng căm thù chung để quét sạch kẻ thù. Bài hát này được trình bày lần đầu trong một buổi phát thanh trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam tháng 12 năm 1960. Trong những buổi tập bí mật, đoàn hợp xướng của Đài phải luyện tập rất nhiều để đảm bảo họ sẽ hát đúng giọng miền Nam. Bản thân Lê Duẩn tham dự buổi tổng duyệt bài hát. Với tinh thần bí mật, Lưu Hữu Phước và hai người bạn đồng học và cùng cộng tác từ những năm 1940, Mai Văn Bộ và Huỳnh Văn Tiểng, lấy bút danh ghi trên bài hát là Huỳnh Minh Siêng (18). Mai Văn Bộ kể rằng dự định của họ là viết một bài “Tiến quân ca” cho cuộc đấu tranh ở miền Nam (19). Bài hát đã được gửi vào Nam từ ngày 19 tháng 2 - 1960, được hát tại lễ thành lập Mặt trận DTGP MNVN. Các đại biểu tham dự cuộc họp này đều nhất trí công nhận đây là bài hát chính thức của họ (20).

Ngày 8 tháng 6 - 1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập để đưa ra một đối trọng nhằm phủ nhận tính hợp thức của Việt Nam Cộng hoà do Mỹ hỗ trợ. Tại buổi lễ thành lập gần biên giới Campuchia, Lưu Hữu Phước, lúc này đã vào Nam làm Bộ trưởng Văn hoá - Thông tin tham dự trong khi “Giải phóng miền Nam” được lấy làm quốc ca của chính phủ mới (21). Bài quốc ca này và bài “Tiếng núi sông”, bài hát chính thức của Liên đoàn các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình được hát trong lễ mở đầu (22). Người sáng tác ca khúc ở vào một hoàn cảnh không bình thường khi trở thành tác giả quốc ca của cả hai phía đối địch. Điều này là một phương cách có chủ ý trong chiến tranh chính trị mà miền Bắc dùng chống lại Mỹ và chính quyền Thiệu. “Giải phóng miền Nam” đã được cộng đồng phản chiến quốc tế tiếp nhận và được những người biểu tình đòi hoà bình hát ở châu Âu và Mỹ. Nó được biết đến nhiều hơn là bản quốc ca và được nhiều người coi như là “bài ca chống đế quốc”.

Chú thích

1. Hoàng Đình Quý, “Bài hát Tiến quân ca”.

2. Quang Hải, “Lưu Hữu Phước: một tác giả hàng đầu của thể loại chính ca”, Lưu Hữu Phước: Sự nghiệp âm nhạc, 50.

3. Vũ Đình Hoè, Hồi ký, 386, 383.

4. Hùng Lân “Việt Nam minh châu trời đông”, Tuyển tập 100 ca khúc tiếng xưa, 232 - 233; Nguyễn Tường Bách, Việt Nam một thế kỷ qua: Hồi ký cuốn một 1916 - 1946, 209; Quang Minh, Cách mạng Việt Nam thời cận kim Đại Việt Quốc Dân Đảng, 158. Một báo cáo năm 1943 của Quốc Dân Đảng đề xuất dùng nửa đầu của một bài hát có tên “Hồn nước” làm đảng ca của họ (Nguyễn Tường Bách, 296). Tôi không tìm ra được một bài hát nào có tên như vậy trong khoảng thời gian đó.

5. Ellen Hanner, The Struggke for Indochina, 1954. Một nhà văn đã thể hiện sự thất vọng về việc “Tiếng gọi thanh niên” không nhận được một phiếu nào chọn làm quốc ca tại Hội nghị này (Nguyễn Ngu Í, phần 2, 40).

6. Xem Tiền phong #12 (1 tháng 6 - 1946), 33

7. Văn Cao, “cảm xúc về quốc ca”, Nhân dân 16/8/1981.

8. Nguyễn Ngọc Huy, Tiến trình hình thành, 76 - 77.

9. Hammer, The Struggle for Indochina, 223.

10. Nguyễn Ngọc Huy, Tiến trình hình thành 83. Không hiểu sao, một trong số những tài liệu tập hợp các quốc ca trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam lại chỉ có bản quốc ca của Việt Nam Cộng hoà với bản có lời không đúng (“Này thanh niên ơi…”) và viết nhầm rằng bài hát này được chọn làm quốc ca vào năm 1945. Xem Martin Shaw và Henry Coleman, National Anthems of the World (London: Pitman Publishing Corporation, 1960), 309 - 311.

11. Lưu Hữu Phước, “Lời tuyên bố của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước về bài quốc ca của Chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Xuân”, Văn nghệ 3 (6 - 7/ 1948), 70.

12. Đoàn Thêm, “Quốc thiều, quốc kỳ, quốc huy”, Bách khoa 174 (15 - 6 - 1967), 4.

13. Phạm Duy, Hồi ký: Thời phân chia Quốc cộng, 86.

14. Những bài vào chung khảo khác là “Nhân dân cách mạng Việt Nam” của Hùng lân, “Việt Nam độc lập thống nhất” của Thẩm Oánh và “Một trời sao” của Ngô Duy Linh (Đoàn Thêm 1967, Phạm Duy 1991, 87). Đáng lưu ý là cả năm tác giả của các bài vào chung khảo đều là những người bắc di cư. Tôi chưa tìm được bản nhạc bài “Suy tôn Ngô Tổng thống”, vậy tôi phải nhờ những bài hồi ký trên mạng cho lời ca. Ví dụ xem.

15. Hồ Trường An, Theo chân những tiếng hát, 134 – 135.

16. Hồ Bông, “Phác thảo chân dung ngành âm nhạc giải phóng 1961 - 1975”, Hồi ức 50 năm âm nhạc cách mạng miền Nam, 98.

17. Lưu Hữu Phước, “Sự ra đời của bài hát Giải phóng miền Nam”, Hành trình với âm nhạc, 37.

18. Lưu Hữu Phước (2000) kể về quá trình chọn tên bút này. Vào lúc này chỉ có ít nhạc sĩ ở bên phía Mặt trận DTGPMN. Một số nhạc sĩ miền Bắc được khuyến khích viết những bài hát lấy tên giả để dùng như người miền Nam (Hồ Bông 1997, 100).

19. Mai Văn Bộ, “Bài Giải phóng miền Nam”, một tác phẩm hoàn chỉnh tuyệt vời của cao trào đồng khởi”, Chung một bong cờ. Về mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, 643.

20. Trương Như Tảng, David Chanoff, Doan van Toai, A Vietcong Memoir, 71, 78.

21. Trương Như Tảng, như trên, 148; Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam thành lập chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam: Nhà xuất bản Giải phóng, 1969, tr 48.

22. Bài hát thứ hai được in trên báo với tên tác giả Quang Chí, cũng chính là Lưu Hữu Phước. Xem Quang Chí. “Tiếng núi sông” trên Văn Nghệ 25 – 11 – 1968 và trên Nhân dân 20 – 12 – 1968,

23. Lưu Hữu Phước, “Sự ra đời…” 41- 42, 647. Bài hát đã được dịch in bằng tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha do Barbara Dane và Irwin Silber trong The Vietnam Songbook (New York: The Guardian, 1969), 192 – 195. Gần đây, bài hát đã được tái hiện trong một đêm diễn phản đối chiến tranh Iraq vào ngày 1 tháng Sáu năm 2003 do cựu chiến binh Việt Nam Joe Bangert trình bày. http:// www.vietnamsongbook.org/setlist_jp.htm.

 

Tác giả bài viết: Jason Gibbs
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 172/2018 new (1)

Market Ban tin so 172 trang 1 7 11 small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2018 small