12:48 ICT Thứ bảy, 25/11/2017
Rss Feed

GS.TSKH Đặng Hùng Võ: Cái được cũng nhiều và cái chưa được cũng không ít

Đăng lúc: Thứ hai - 01/05/2017 13:32 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Trao đổi bên lề với phóng viên tại Hội thảo Đóng góp ý kiến cho Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức, GS.TSKH Đặng Hùng Võ – Cố vấn cao cấp Dự án Quản trị đất đai tiểu vùng sông Mê-Kông (MRLG) cho biết: “Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã thực thi được hơn 13 năm, cái được cũng nhiều và cái chưa được cũng không ít, kể cả từ tên luật, phương pháp tiếp cận, phạm vi điều chỉnh, cũng như nhiều chính sách về rừng và nghề rừng của nước ta không phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chưa tiếp thu được các thông lệ tốt trên thế giới”.

GS.TSKH Đặng Hùng Võ – Cố vấn cao cấp Dự án Quản trị đất đai tiểu vùng sông Mê-Kông (MRLG) trình bày tại hội thảo Đóng góp ý kiến cho Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

GS.TSKH Đặng Hùng Võ – Cố vấn cao cấp Dự án Quản trị đất đai tiểu vùng sông Mê-Kông (MRLG) trình bày tại hội thảo Đóng góp ý kiến cho Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

Sở hữu rừng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên

Theo GS Võ cho biết, quyền sở hữu tư nhân đối vời rừng sản xuất là rừng trồng đã được quy định tại Luật Bảo vệ và phát triển năm 2004 và tiếp tục được giữ trong Dự thảo của Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), và cũng không có gì đổi mới hơn trong chính sách đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên.

Nhưng trên thực tế trong hơn 10 năm qua, vướng mắc rất lớn gặp phải là việc quản lý rừng sản xuất là rừng tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân. Chủ rừng sản xuất loại này chỉ có nhiệm vụ bảo vệ và phát triển, mức độ hưởng dụng rất hạn chế, làm cho mất động lực trong bảo vệ và phát triển, mà rừng này vẫn thường xuyên bị mất do khai thác trái pháp luật.

Nghị quyết số 30-NQ/TƯ của Bộ Chính trị đã đưa ra giải pháp khá thấu đáo đối với chế độ quản lý rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trong đó bản chất cần thay đổi là chủ rừng vẫn được khai thác gỗ nhưng theo quy trình khai thác rừng bền vững sau khi được cấp chứng chỉ. Khi đã xác định là rừng sản xuất thì có nghĩa là được khai thác gỗ, nếu không thì phải đưa loại rừng này vào nhóm rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng để chỉ được bảo vệ và phát triển, không được khai thác gỗ. Khi đã đưa rừng loại này vào nhóm  rừng sản xuất thì phải được khai thác gỗ, vấn đề là khai thác rừng bền vững phải được thực hiện.

Theo cách tiếp cận đổi mới như trên, sở hữu tư nhân, sở hữu chung được xác lập đối với toàn bộ rừng sản xuất, kể cả rừng trồng và rừng tự nhiên, trong đó sở hữu tư nhân, sở hữu chung đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên chỉ được pháp luật thừa nhận khi chủ rừng được cấp chứng chỉ quản lý và khai thác rừng bền vững. Việc đổi mới như vậy sẽ làm tăng thu ngân sách nhà nước từ cơ chế Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên có thu tiền hưởng dụng rừng cho chủ rừng, đồng thời tạo được động lực cho bảo vệ và phát triển rừng sản xuất là rừng tự nhiên.

Tuy nhiên vẫn tùy theo mức độ đổi mới tư duy có thể chấp nhận mà có thể đưa ra chính sách đổi mới này áp dụng cho toàn bộ rừng sản xuất là rừng tự nhiên hay hạn chế lại phạm vi áp dụng chỉ cho rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo kiệt. Theo cách nhìn của chúng tôi, chính sách này cần được áp dụng cho toàn bộ rừng sản xuất là rừng tự nhiên, GS Võ chia sẻ.

Đẩy mạnh các yếu tố quản trị rừng

Theo GS Võ, quản trị phải dựa trên 3 thành tố chính là công khai, minh bạch thông tin quản lý; sự tham gia của người dân vào quản lý và giám sát; trách nhiệm giải trình của cơ quan và cán bộ quản lý. Tất nhiên, mục tiêu của quản trị là nâng cao hiệu suất, hiệu quả của quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác rừng, đồng thời kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền quản lý của các cơ quan nhà nước nhằm tạo lập một hệ thống quản lý liêm chính.

Cơ chế quản trị trong quản lý rừng và đất rừng cần phải tăng cường chủ yếu ở 3 khu vực quản lý: thứ nhất là quá trình lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện quy hoạch rừng; thứ hai là quá trình giao đất rừng, cho thuê đất rừng, chuyển mục đích sử dụng đất đối với đất rừng, thu hồi đất rừng; thứ ba là giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi giữa các loại rừng, thu hồi rừng. Quản trị trong khu vực thứ nhất đã được quy định trong Dự thảo Luật Quy hoạch. Quản trị trong khu vực thứ hai đã được quy định trong Luật Đất đai 2013 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Trong Dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), cần bổ sung quy định về quản trị rừng trong khu vực giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi giữa các loại rừng, thu hồi rừng.

Ngoài ra, theo tôi Dự thảo còn thiếu một chương có nội dung về giám sát; thanh tra; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo liên quan tới tài nguyên rừng, nên cần phải bổ sung, GS Võ nói.

Khi soạn thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Ban soạn thảo đã “mượn” khá nhiều thuật ngữ được sử dụng trong Luật Đất đai 2003, trong đó có thuật ngữ ‘quyền sử dụng rừng” được ‘mượn” từ thuật ngữ “quyền sử dụng đất”, sau đó thuật ngữ “chuyển mục đích sử dụng rừng” được mượn từ thuật ngữ “chuyển mục đích sử dụng đất rừng”. Các thuật ngữ này không được giải thích trong luật, nên chắc chắn sẽ gây khó khăn trong áp dụng pháp luật.

Như ở trong Luật Đất đai, “quyền sử dụng đất” là một khái niệm thay thế quyền sở hữ đất đai để đưa nguồn lực đất đai vào vận hành trong cơ chế thị trường tại những đất nước chỉ thừa nhận chế độ công hữu về đất đâi. Mặc khác, đất đai là tư liệu sản xuất mà diện tích không bị tiêu hao trong quá trình khai thác, sử dụng, khác với các loại tài nguyên thiên nhiên khác gồm cả tài nguyên rừng luôn bị mất đi khai thác, sử dụng.

Còn về thuật ngữ “chuyển mục đích sử dụng đất rừng” trong Luật Đất đai đã được xác định là việc chuyển đổi giữa 3 loại đất rừng là đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và đất rừng sản xuất. Vậy trong luật về tài nguyên rừng, nếu muốn đưa thêm khái niệm “chuyển mục đích sử dụng rừng” thì phải làm rõ nội dung: liệu có phải là chuyển đổi giữa các loại rừng trong cùng một nhóm đất rừng hay không? Ví dụ như chuyển đổi giữa vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài, sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan….  trong cùng nhóm đất rừng đặc dụng. Tương tự cũng cần làm rõ khái niệm này trong nhóm rừng phòng hộ (rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn cát bay, chắn gió, chắn sóng, lấn biển) và nhóm rừng sản xuất.

Việc thay đổi một số thuật ngữ để rõ một số khái niệm trong quản lý rừng khác với quản lý đất đai và tránh nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật khi thực thi, và cũng làm rõ khái niệm quyền sở hữu tư nhân về rừng được xác lập theo pháp luật.

Theo GS Võ thì vấn đề được đặt ra là nếu các quy định về nội dung này của Luật Đất đai 2013 là không phù hợp nên phải sửa cho phù hợp với thiết kế mới trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), nếu các quy định này của Luật Đất đai 2013 là phù hợp thì các quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) phải có thiết kế tương tự.

Tác giả bài viết: HT
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

a11

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 160/2017 new (1)

Trang 1 Market Ban tin so 160 small1

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 (final) 1 copy small