06:22 ICT Thứ sáu, 21/09/2018
Rss Feed

Giảm phát thải khí nhà kính

Đăng lúc: Thứ năm - 17/05/2018 14:12 - Người đăng bài viết: Cộng tác viên

 

Trong giai đoạn 2001 - 2010, kinh tế Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định. Các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế cũng như những bước đi lên trong đời sống xã hội, Việt Nam đang ngày càng gia tăng lượng KNK phát thải trong tất cả các lĩnh vực.

Công trình xây dựng bằng các loại vật liệu xanh góp phần giảm phát thải khí nhà kính (ảnh internet)

Công trình xây dựng bằng các loại vật liệu xanh góp phần giảm phát thải khí nhà kính (ảnh internet)

Căn cứ theo kết quả kiểm kê quốc gia KNK vào các năm 1994, 2000 và 2005, lượng khí thải tại Việt Nam được thể hiện trong Bảng, trong đó, các khí thải tại các năm cơ sở được quy đổi thành CO2 tương đương.

Trong lĩnh vực năng lượng, tại Việt Nam, KNK chủ yếu được phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu và phát thải tức thời trong khai thác, vận chuyển. Trong đó, hoạt động đốt nhiên liệu xảy ra phổ biến ở các ngành sản xuất điện; công nghiệp và xây dựng; giao thông vận tải; thương mại/dịch vụ; dân dụng; nông nghiệp/lâm nghiệp/thủy sản và một số ngành khác. Phát thải do phát tán KNK chủ yếu do khai thác than, dầu, khí và rò rỉ khí. Trong đó, KNK từ quá trình đốt nhiên liệu chiếm tỷ trọng khoảng 85 - 90%.

 Phát thải KNK trong lĩnh vực quản lý chất thải được tính toán cho các hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn đô thị và phát thải KNK từ nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp. Tại Việt Nam, những năm gần đây, mỗi năm có khoảng trên 15 triệu tấn chất thải rắn được thải ra từ các nguồn khác nhau, trong đó trên 80% là từ các khu đô thị, còn lại là chất thải công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ có một phần trong đó được thu gom và xử lý với mức trên 70% ở khu vực đô thị và khoảng 20% ở khu vực nông thôn. Phát thải chủ yếu bao gồm: Phát thải CH4 từ các bãi chôn lấp chất thải rắn được thu gom; từ nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; phát thải N2O từ bùn cống nước thải sinh hoạt; phát thải CO2 và N2O từ quá trình đốt chất thải. Nhìn chung, phát thải từ lĩnh vực chất thải chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (2.5 - 5.3%) trong cơ cấu tổng phát thải quốc gia.

Theo ý kiến của TS Nguyễn Văn Tài – Tổng Cục trương Tổng cục Môi trường cho biết, muốn giảm phát thải KNK cần phải xây dựng căn cứ theo các yếu tố ảnh hưởng đến lượng phát thải trong từng lĩnh vực như tại Việt Nam, trong lĩnh vực phát thải lớn nhất hiện nay là AFOLU, các yếu tố tác động đến phát thải KNK được chỉ ra là: số lượng vật nuôi (tỷ lệ thuận với lượng phát thải CH4, N2O); đặc điểm loại vật nuôi (ảnh hưởng đến lượng nitơ bài tiết); diện tích thu hoạch lúa và thời gian canh tác lúa (ảnh hưởng đến tiềm năng phát thải CH4); mức độ sử dụng phân bón N tổng hợp, phân chuồng, phân hữu cơ, bùn thải, phụ phẩm cây trồng và hệ số phát thải N2O; khối lượng sinh khối, gỗ chết/rác bị đốt cháy; diện tích bị đốt cháy; lượng vật chất khô/đơn vị diện tích trong các bể chứa các bon; diện tích đất; hệ số phát thải.

 Ngoài ra, theo TS Tài cho biết thêm, để giảm tải trong ngành nông nghiệp cần phải có 3 nhóm đó là: Giảm phát thải CO2, CH4, N2O bằng các biện pháp quản lý, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp; tăng cường khả năng dự trữ, hấp thụ các bon trong các bể chứa hệ sinh thái nông, lâm nghiệp; tránh hoặc di dời phát thải bằng cách thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng nhiên liệu sinh học từ cây trồng và phụ phẩm nông nghiệp, tránh và hạn chế canh tác nông nghiệp ở những khu vực có rừng, đồng cỏ, thảm thực vật.

   Để cụ thể hóa các giải pháp giảm phát thải KNK theo hướng trên, các quốc gia thường kết hợp giữa xây dựng, phát triển các chính sách giảm thải với đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng các giải pháp công nghệ. Các chính sách giảm phát thải KNK khá đa dạng và khác nhau ở từng quốc gia.

Bên cạnh các giải pháp về chính sách, giải pháp về công nghệ là một mặt không thể thiếu trong chiến lược giảm phát thải KNK của các quốc gia. Các giải pháp này rất đa dạng, nhưng cần được đầu tư nghiên cứu và thử nghiệm để đảm bảo phù hợp với điều kiện của quốc gia nói chung, cũng như ngành nghề, địa bàn áp dụng nói riêng. Các tổ chức, chương trình quốc tế như Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH hay Chương trình phát triển Liên hợp quốc đã đưa ra danh mục các công nghệ giảm thải căn cứ theo các nguồn phát thải. Các công nghệ đưa ra được áp dụng cho từng tiểu ngành, tiểu lĩnh vực cụ thể, TS Tài cho biết thêm.

Hiện nay, mục tiêu chung quản lý phát thải khí nhà kính nhằm thực hiện Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đồng thời tận dụng các cơ hội để phát triển nền kinh tế các- bon thấp, tăng trưởng xanh và cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Bên cạnh đó, thực hiện một số mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính cụ thể cho các lĩnh vực chủ yếu trong các lĩnh vực năng lượng và giao thông vận tải, mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính so với năm 2005 là 8%.

Lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất, lâm nghiệp, mục tiêu tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính so với năm 2005 là 20% thông qua các biện pháp như bảo vệ rừng; trồng rừng, tái trồng rừng; đẩy mạnh phục hồi rừng, tái sinh rừng tự nhiên.

Tác giả bài viết: HT
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

ddkhtt1

Bản tin PBKT số 169/2018 new (1)

Market Ban tin so 169 Trang 1 copy small

Phổ biến kiến thức theo Chuyên đề new (1)

Trang 1 Chuyen de Pho bien kien thuc thang 9 2018 small