LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
 Thông tin KH&CN  Khoa học XH&NV
Đào tạo nguồn nhân lực biển phục vụ quản lý tổng hợp về biển và hải đảo Việt Nam (14:16:43 Ngày 13/06/2012)
Đứng trước những tiềm năng to lớn về biển, hải đảo tổ quốc, vấn đề phát triển kinh tế biển, hội nhập quốc tế, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và đặc biệt trong bối cảnh hiện nay là ứng phó với biến đổi khí hậu. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phát triển con người là một đặc trưng không thể thiếu được trong sự nghiệp của xã hội, xã hội chủ nghĩa, thông qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn con người và kiến thức khoa học được trang bị cho nó là vốn quý nhất quyết định sự phát triển của xã hội, như Bác Hồ đã nói “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Vậy muốn phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên môi trường biển phục vụ cho phát triển biển và khoa học công nghệ biển. Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW khoá 10 đã thông qua nghị quyết về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 trong đó vấn đề phát triển nguồn nhân lực biển là một giải pháp có tầm quan trọng đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội vùng biển và đới bờ, trong chiến lược đó căn cứ vào qui hoạch từng ngành, lĩnh vực thuộc kinh tế biển và vùng bờ biển bao gồm việc đào tạo các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia đầu ngành và đội ngũ lao động có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao được đào tạo chuyên sâu về các ngành nghề, đi đôi với nó là các cơ chế chính sách hợp lý khuyến khích các cán bộ khoa học và quản lý công tác tại các vùng biển, hải đảo xa xôi.

Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị đặc biệt đặt ra trong tình hình mới, Tổng cục Biển và hải đảo Việt Nam - một cơ quan quản lỳ nhà nước về biển và hải đảo cần nhận rõ vai trò trách nhiệm to lớn của mình trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và tiếp cận cán bộ phụ vụ công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo đánh giá kỹ thực trạng đội ngũ cán bộ và xác định nhu cầu đào tạo, đè ra các phương hướng, giải pháp thích hợp trong qui hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ngành Tài nguyên – Môi trường để vượt qua những tồn tại, khó khăn hiện nay về đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý, tránh tụt hậu trong tương lai đối với lĩnh vực này trong giai đoạn 2015-2020.

I. Thực trạng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, quản lý tổng hợp nhà nước về biển đảo

Từ khi thành lập đến nay, Tổng Cục biển và Hải đảo Việt Nam đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý, lực lượng này không ngừng được bổ sung, cho đến nay con số này đã lên tới trên 537 người. Ở địa phương trên toàn quốc có 26/28 tỉnh giáp biển thành lập Chi cục Biển đảo và 13/28 sở có chức năng quản lý về biển. Về lĩnh vực biển đảo, sở đông nhất có 06 người theo dõi và ít nhất có 01 người làm kiêm nhiệm, và ở cấp xã, huyện chưa hề có một cán bộ chuyên trách nào theo dõi trong lĩnh vực này.

Hiện nay, tại bộ phận quản lý tổng hợp biển, đảo thuộc các sở Tài nguyên và Môi trường. Các tỉnh ven biển và các cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường các huyện ven biển, huyện đảo, số lượng cán bộ được đào tạo chuyên ngành về biển nhìn chung không có hoặc rất ít. Tại một số sở tài nguyên môi trường, Uỷ ban Nhân dân tỉnh có điều chuyển một số ít cán bộ làm công tác thuỷ sản và các lĩnh vực khác sang tăng cường trái với chuyên môn họ không được đào tạo nên chất lượng không đảm bảo.

Trong số cán bộ, ngành ở Trung ương có chức năng, nhiệm vụ liên quan đến biển và hải đảo thì ngành Tài nguyên Môi trường là một ngành còn non  trẻ, nhiều vấn đề quản lý còn mới mẻ, lạ lẫm rất thiếu hụt nguồn nhân lực có đủ kiến thức và kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển ở các cấp. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam ở Trung ương và các sở tài nguyên môi trường ở các tỉnh ven biển đều rất cần phải chú trọng đến công tác tăng cường năng lực về chuyên môn và nhiệm vụ quản lý về biển cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý tổng hợp nhà nước về biển và sự nghiệp biển đảo của ngành, để đảm bảo được vai trò đầu mối và nòng cốt trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng liên quan đến biển.

Năng lực về quản lý tổng hợp, tích hợp các hệ thống thông tin trong quản lý nhà nước còn non kém, tầm nhìn còn hạn chế nên chưa phát huy được vai trò cơ quan đầu mối trong quản lý nhà nước về biển và hải đảo.

II. Nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý biển - hải đảo hàng năm.

Từ nay đến năm 2020, căn cứ vào tình hình thực tế và khả năng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, các nhà khoa học có trình độ cao trong các cơ quan quản lý nhà nước về biển - hải đảo từ Trung ương đến địa phương, tổng số cán bộ công chức, công chức, viên chức trong ngành tài nguyên và môi trường cần đào tạo, bồi dưỡng ước tính là trên 1.500 người đến năm 2015 và trên 2.000 đến năm 202.

Có thể khái quát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức phục vụ quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển, hải đảo Việt Nam gồm các nhu cầu cơ bản sau đây:

- Đào tạo lại, bồi dưỡng ngắn hạn nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hàng năm cho cán bộ, công chức, viên chức Tổng cục biển và hải đảo.

- Đào tạo dài hạn sau đại học theo hướng chuyên sâu cho các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực biển đảo.

- Đào tạo chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước, kinh tế, kỹ thuật, khoa học công nghệ, lý luận chính trị, quốc phòng an ninh.

-  Đào tạo các chuyên gia vễ kỹ năng lập và phân tích, đánh giá, qui hoạch sử dụng biển, đảo, giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển đảo.

- Đào tạo về kỹ năng quản lý, khai thác, sử dụng thông tin dữ liệu tài nguyên môi trường bản đồ biển nói chung và công tác thiết lập, quản lý hồ sơ các vùng biển nhạy cảm, vùng bờ cần bảo vệ.

- Đào tạo kỹ năng về lập, triển khai và đánh giá hiệu quả chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ.

- Đào tạo về kỹ năng quản lý, khai thác, sử dụng thông tin dữ liệu tài nguyên môi trường bản đồ biển nói chung và công tác thiết lập, quản lý hồ sơ các vùng biển nhạy cảm, vùng bờ cần bảo vệ.

- Đào tạo kỹ năng về lập, triển khai và đánh giá hiệu quả chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ.

- Đào tạo kỹ năng về xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển.

- Đào tạo kỹ năng tổ chức các hoạt động điều tra, nghiên cứu, tuyên truyền, thu hút sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường biển.

- Đào tạo kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ biển, giải quyết các vấn đề có tầm vĩ mô về động lực biển, khí tượng thủy văn biển, động lực ven bờ và tương tác biển khí quyển.

III. Về quan điểm yêu cầu và một số giải pháp quan trọng

1. Quan điểm và yêu cầu

Trên đúng cơ sở đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của toàn hệ thống quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo cần lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng khuyến khích cán bộ khoa học, quản lý đảm nhận các công tác trọng yếu và công tác tại những vùng biển đảo. Cần khuyến khích việc xây dựng một số cơ sở đào tạo chuyên ngành về biển ở bậc đại học, sau đại học và dạy nghề tại các tỉnh và thành phố ven biển nước ta. Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 cũng yêu cầu có giải pháp mạnh mẽ để sớm giải quyết tốt các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội ở các xã ven biển, vùng bãi ngang ven biển còn rất khó khăn, nghèo đói, lạc hậu và chịu nhiều rủi ro.

Công tác phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước và tổng hợp thống nhất về biển, hải đảo phải gắn liền với đào tạo chuyên môn, và quản lý biển phải có chuyên môn sâu đồng thời phải đa dạng hoá các hình thức đào tạo phù hợp với từng đối tượng trong đó cần ưu tiên đào tạo lại đội ngũ công chức, viên chức ở trung ương và địa phương hiện nay bằng hình thức đào tạo qua công việc thực tế, tham quan, học hỏi, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ, kiểm tra chuyên môn thông qua các hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế về biển và hải đảo. Đối với cán bộ trẻ cần có kế hoạch đào tạo dài hạn, chính qui ở các bậc đại học khác nhau trong và ngoài nước.

Cần đảm bảo cập nhật thông tin về quản lý biển và hải đảo của thế giới và thực tế trong nước, xác định rõ nội dung và nhiệm vụ quản lý biển và hải đảo và quản lý nhà nước về biển và hải đảo. Bên cạnh bồi dưỡng kiến thức, các vấn đề lý luận có liên quan, cần chú trọng đến đào tạo, tập huấn kỹ năng quản lí nhà nước về biển và hải đảo.

2. Một số giải pháp cấp bách

Cần ưu tiên tăng số chỉ tiêu đào tạo dài hạn bằng nguồn ngân sách nhà nước tại các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học trong nước và ngoài nước cho đội ngũ công chức, viên chức các cơ quan quản lí Nhà nước thống nhất về biển và hải đảo.

Khẩn chương xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình khung về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lí nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo từ trung ương xuống địa phương nhằm trang bị một cách tổng quát, toàn diện những vấn đề lí luận và thực tiễn về quản lí nhà nước của Việt Nam.

Tăng cường hợp tác, trao đổi chuyên gia nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ với những nước bạn có trình độ quản lí biển tiên tiến, các tổ chức quốc tế đã thiết lập quan hệ đối tác về lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ cần thiết về quản lí tổng hợp biển đảo với nước ta.

Tăng cường phố hợp chặt chẽ giữa Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam với cơ sở đào tạo trong nước và nước ngoài trong việc đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu quản lí tổng hợp nhà nước về biển đảo hướng tới xây dựng chuyên ngành đào tạo riêng về vấn đề quản lí biển và đới bờ tại các trường đại học trong nước.

Chủ trọng tổ chức thực hiện đào tạo bồi dưỡng các nghiệp vụ chuyên sâu cho cán bộ các cơ quan quản lí nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo ở trung ương qua các chương trình dự án trọng điểm cấp nhà nước và dự án hợp tác quốc tế.

Kết luận: Để làm tốt điều này trước hết cần có sự điều tra, đánh giá một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng về thực trạng nguồn nhân lực hiện có của Tổng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, xác định đúng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, các cơ quan đơn vị ở từng cấp. Tiếp đến các quan điểm mục tiêu và yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo các loại nhu cầu khác nhau phù hợp với nhóm đối tượng khác nhau cần được làm rõ trong quy hoạch, kế hoạch đào tạo và phát triển nhân lực ngành tài nguyên môi trường giai đoạn 2011 – 2015 – 2020. Cuối cùng phương hướng, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực biển vừa phải đảm bảo liên thông nhu cầu đào tạo của toàn ngành, vừa phải tính đến đặc thù riêng của từng lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quản lí biển đảo một lĩnh vực quan trọng nhất có nhiều thách thức nhất trong tình hình hiện tại và trong tương lai.

Bùi Thị Diễm Phương - Tc Biển Việt Nam, số 1+2/2012, tr.28
In bài viết   Gửi cho bạn bè
Từ khóa :




   Tìm bài viết theo thời gian :
CHUYÊN ĐỀ
 Ngày khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5
 Lâm Đồng: Tọa đàm ngày khoa học và công nghệ Việt Nam 18/5
 Đồng Tháp: Liên hiệp Hội đón nhận lẵng hoa chúc mừng nhân“Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18-5” của Liên hiệp Hội Việt Nam
 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ
 Chiến dịch Điện Biên Phủ - Đỉnh cao nghệ thuật quân sự Việt Nam
 Điện Biên Phủ - chiến công chói lọi của dân tộc Việt Nam
 Sửa đổi Hiến pháp 1992
 Chương II, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được góp ý nhiều nhất
 'Phải có Hiến pháp dân chủ'
 Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII
 Thực hiện lời hứa với cử tri: “Tôi sẽ phát biểu thẳng thắn “
 Vào Quốc hội không phải để làm quan
 Đại hội Đảng XI
 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 2011-2020
 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
 Sửa đổi Hiến pháp 1992
 Công văn số 23/LHHVN-VP ngày 10/01/2013 của Liên hiệp Hội Việt Nam V/v tổ chức lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992
 Từ Tuyên ngôn độc lập đến Hiến pháp Hồ Chí Minh
 Chương trình Tây Nguyên III
 Chương trình Tây Nguyên 3: Nên tập trung vào đánh giá, tham vấn chính sách
 Thủ tướng đồng ý xây dựng Chương trình Tây Nguyên III
 Đường sắt cao tốc
 Tàu cao tốc ở Đài Loan vẫn thua lỗ to
 Những bài học từ kết quả bỏ phiếu đường sắt cao tốc
 Chuyên đề bauxit
 “Dự án bauxit chưa tính đến nứt đất, lũ bùn đá”
 Rà soát lại toàn bộ thiết kế hồ bùn đỏ Tây Nguyên
THĂM DÒ DƯ LUẬN
Một số tỉnh cho nước ngoài thuê 50 năm đất rừng đầu nguồn vùng biên giới
 
 

Trang Web Liên hiệp Hội tỉnh Ninh Bình   Trang Web Dự án Quỹ toàn cầu phòng chống HIV/AIDS Bản tin phổ biến kiến thức số 120/2014                     Trang web bảo vệ gấu  


LƯỢT TRUY CẬP

  5,282,728  lượt
(109 người Online )